rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận

* Vận dụng kĩ năng giải thích để bàn luận về vấn đề xã hội đó Trọng tâm của bài văn nghị luận xã hội nằm ở phần bàn luận. Học sinh vận dụng tổng hợp các thao tác giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh. Thao tác giải thích giúp học sinh bàn luận, lí giải về vấn đề sâu sắc, có sức thuyết phục hơn. Qua đó, các em còn rèn luyện kỹ năng viết văn nghị luận thật tốt để chuẩn bị cho bài viết số 7 lớp 8 đề 1 của mình thật hay. Chi tiết mời các em cùng tải miễn phí về tham khảo: Dàn ý nghị luận về tuổi trẻ và tương lai đất nước. a) Mở bài: Sau đây là một số kinh nghiệm cụ thể. a. Kỹ năng viết phần mở bài và kết bài hay * Mở bài hay: Cần giúp học sinh hiểu đợc: - Mở bài thờng là một đoạn văn hoàn chỉnh. Đoạn văn ấy cũng có 3 phần: Mở đoạn, giữa đoạn, kết đoạn. + Phần mở đoạn: Viết những câu dẫn dắt có nội dung liên quan gần gũi với vấn đề chính sẽ nêu. Ơi Vay Lừa Đảo. Viết đoạn văn diễn dịch nêu cảm nhận của em về khổ thơ sauCon ở miền Nam ra thăm lăng Bác Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam Bão táp mưa sa, đứng thẳng làmKhổ thơ đầu tiên đã thể hiện thật hay dòng cảm xúc của tác giả khi ngắm nhìn quang cảnh bên ngoài lăng Bác. Cách vào đề thật gần gũi giản dị, nhà thơ đã khéo léo giới thiệu được vị trí không gian quãng đường từ miền Nam xa xôi ra viếng Bác “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác”. Tiếng “ con” mở đầu bài thơ cất lên thật gần gũi, thân thương. Đó là cách xưng hô rất mật thiết của người dân Nam Bộ, đã bộc lộ sâu sắc lòng ngậm ngùi thương nhớ của nhà thơ, của đồng bào miền Nam đối với Bác, cách xưng hô ấy đã xóa nhòa đi khoảng cách giữa lãnh tụ và quần chúng nhân dân. Nhà thơ dùng từ thăm thay cho từ viếng như cố ý muốn quên đi cảm giác tiếc thương, đau buồn và hình dung Bác như còn sống mãi với dân tộc Việt Nam. Ấn tượng đậm nét đầu tiên của nhà thơ khi đứng trước lăng Bác là hình ảnh hàng tre “Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát/ Ôi ! hàng tre xanh xanh Việt Nam/ Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng”. Hiện lên trong sương khói quảng trường Ba Đình lịch sử là hình ảnh hàng tre xanh bát ngát – hình ảnh thực chỉ hàng tre thân thuộc chốn làng quê Việt Nam khiến lăng Bác vừa trang nghiêm lại vừa gần gũi. Câu cảm thán Ôi! đã biểu hiện xúc động pha lẫn niềm tự hào khôn xiết của tác giả. Hình ảnh hàng tre còn mang nét nghĩa ẩn dụ chỉ phẩm chất cốt cách con người Việt Nam, đó là sức sống kiên cường bền bỉ, rời rợi sắc xanh như cây tre luôn tươi tốt giữa đất đai khô cằn sỏi đá. Thành ngữ “bão táp mưa sa” kết hợp hình ảnh nhân hóa “đứng thẳng hàng” đã khắc họa vẻ đẹp kiên cường, bất khuất của con người Việt Nam trong muôn vàn khó khăn, thử thách. Tre mang bao phẩm chất của con người Việt Nam mộc mạc, thanh cao, ngay thẳng, bất khuất. Dấu hiệu hàng tre đầu tiên ở nơi Bác cũng là dấu hiệu của dân tộc Việt Nam, bởi Bác cũng chính là biểu hiện Việt Nam, tiêu biểu cho con người Việt Nam hơn bao giờ hết. Hàng tre xanh ấy được trồng xung quanh lăng Bác như muốn thay cả dân tộc Việt Nam canh giấc ngủ ngàn thu cho Người. Tình cảm của nhà thơ và của đồng bào miền Nam khi về với Bác thật chân thành, xúc động biết bao!Cảm nhận khổ 2 bài “Viếng lăng Bác” của Viễn PhươngĐoạn thơ đã thể hiện nỗi xúc động thiêng liêng xen lẫn niềm tự hào và lòng biết ơn vô hạn của nhà thơ khi hòa cùng dòng người vào lăng viếng BácNgày ngày mặt trời đi qua trên lăngThấy một mặt trời trong lăng rất đỏNgày ngày dòng người đi trong thương nhớKết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa câu thơ đầu tiên với hình ảnh mặt trời thực và ẩn dụ sóng đôi với nhau đã thể hiện thật hay những suy ngẫm, cảm xúc của Viễn Phương với Bác. Một mặt trời thiên nhiên, rực rỡ, vĩnh hằng ngày ngày đi qua trên lăng và “Một mặt trời trong lăng rất đỏ“- hình ảnh ẩn dụ chỉ Bác Hồ vĩ đại. Nếu như vầng mặt trời kì vĩ ở trên cao là cội nguồn của ánh sáng, sự sống trên trái đất thì Bác chính là mặt trời của dân tộc, là người đem đến ánh sáng, niềm vui, mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Hình ảnh mặt trời thiên nhiên được nhân hóa qua từ đi và thấy đang ngày ngày chiêm ngưỡng vầng mặt trời trong lăng với niềm ngưỡng mộ và thán phục đã khẳng định hơn nữa vị trí, vai trò của Bác trong lòng dân tộc. Màu sắc “rất đỏ” làm cho câu thơ có hình ảnh đẹp gây ấn tượng sâu xa hơn, nói lên tư tưởng cách mạng và lòng yêu nước nồng nàn của Bác. Điệp ngữ “ngày ngày” không chỉ gợi ấn tượng về cõi trường sinh vĩnh viễn mà còn gợi tấm lòng nhân dân không nguôi nhớ Bác, người cha già kính yêu của dân tộc. Hòa nhập vào “dòng người” đến lăng viếng Bác, nhà thơ xúc động bồi hồi, thành kính và nghiêm trang. Dòng người đông đúc, chẳng khác nào một “tràng hoa” muôn sắc ngàn hương từ mọi miền đất về đây thăm Bác. Hình ảnh ẩn dụ “tràng hoa” rất đẹp, nó như muốn nói mỗi người dân Việt Nam như một đóa hoa đang nở rực rỡ dưới ánh mặt trời của Bác đã về đây kính dâng lên Người những gì tinh túy nhất của cuộc đời, lời thơ diễn tả tấm lòng biết ơn, sự thành kính của nhân dân đối với Bác Hồ vĩ đại. Chữ “dâng” chứa đựng biết bao tình cảm, biết bao tình nghĩa. Nhà thơ không nói “bảy chín tuổi” mà nói bảy mươi chín mùa xuân, cách nói ẩn dụ gợi ý nghĩa cuộc đời Bác đẹp như những mùa xuân, Bác đã đem về mùa xuân cho đất nước, cho cuộc đời. Lời thơ chân thành, giản dị đã bộc bạch bao tình cảm yêu mến, nhớ thương của viễn Phương và cũng là của nhân dân miền Nam với nhận khổ 3 Bác nằm trong giấc ngủ bình yênGiữa một vầng trăng sáng dịu hiềnVẫn biết trời xanh là mãi mãiMà sao nghe nhói ở trong thơ thứ ba đã diễn tả cảm xúc của tác giả khi vào trong lăng, đứng trước di hài của Bác. Bao tình cảm dồn nén bấy lâu nay gặp bóng hình thân thương bỗng trào lên thổn thức “Bác nằm trong giấc ngủ bình yên / Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền” . Ánh sáng dịu nhẹ trong lăng khiến tác giả hình dung đó là ánh trăng của đất trời vốn là tri kỉ tri âm của Bác. Bác như đang nằm ngủ một giấc ngủ “bình yên“, trong một khung cảnh thơ mộng, Bác chỉ tạm nghỉ ngơi sau một hành trình dài vất vả, gian nan. Lời thơ lại một lần nữa như nén nỗi đau lại để khẳng định rằng Bác vẫn còn sống mãi. Bác vốn yêu trăng, trăng làm bạn với Bác vào trong nhà lao, trăng theo Bác lên đường ra chiến dịch và trăng lại về đây để canh giữ giấc ngủ bình yên cho Người. Hình ảnh vầng trăng sáng dịu hiền bao bọc giấc ngủ của Bác đã gợi cho ta cảm nhận về vẻ đẹp thanh cao, giản dị của Bác, một tâm hồn luôn yêu và gắn bó với thiên nhiên. Nhìn “Bác ngủ “, nhà thơ đau đớn, xúc động “Vẫn biết trời xanh là mãi mãi / Mà sao nghe nhói ở trong tim? ” . Trong trái tim đầy yêu thương, kính trọng và biết ơn của mọi người, Bác như còn sống mãi nhưng lí trí thì lại phải tỉnh táo để nhận thức rằng Bác đã đi xa. Hình ảnh ẩn dụ “trời xanh” như muốn nói Bác đã vĩnh viễn hóa thân vào bầu trời của dân tộc, sự nghiệp của Người mãi mãi vang vọng với non sông thế nhưng nỗi đau vẫn không dừng lại. Cụm từ “nghe nhói” đã diễn tả sự đau đớn, tiếc thương đến cực độ, nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác gợi hình dung nỗi đau không chỉ cảm được mà còn nghe thấy được, nỗi đau như giằng xé, day dứt khôn nguôi. Lời thơ tựa như tiếng khóc nghẹn ngào của đứa con xa về muộn bên di hài người cha kính nhận khổ cuối bài thơ “Viếng lăng Bác”Mai về miền Nam thương trào nước mắtMuốn làm con chim hót quanh lăng BácMuốn làm đoá hoa toả hương đâu đâyMuốn làm cây tre trung hiếu chốn này…Khổ thơ cuối nói lên niềm lưu luyến, bịn rịn của nhà thơ khi phải trở về miền Nam. Đến giờ phút chia tay, sắp phải chia xa người cha già kính mến, trong lòng nhà thơ trào dâng bao nỗi niềm xúc động. Lòng thương nhớ bấy lâu đã vỡ òa trong tiếng khóc nghẹn ngào “Mai về miền Nam thương trào nước mắt”. “Mai về miền Nam” – đang ở giây phút hiện tại, nghĩ về lúc phải chia xa, bao nỗi nhớ niềm thương lại dâng lên tràn đầy, không thể nào kìm nén. Câu thơ giống như một lời giã biệt, cụm từ “thương trào nước mắt” cho ta thấy nỗi xúc động mãnh liệt của nhà thơ, nước mắt ấy là giọt nước mắt của nhớ thương, của khao khát được ở lại mãi bên Người, giọt nước mắt nhớ thương của người con về thăm cha muộn màng nhưng sâu nặng biết bao. Dù có lưu luyến, có bịn rịn, không muốn rời xa Bác thì cũng đến lúc phải trở về miền Nam, nhà thơ chỉ có thể gửi lòng mình ở lại bằng cách hóa thân vào cảnh vật bên lăng Bác. Nhà thơ muốn hóa thân làm “con chim hót” để cất tiếng hót đem lại chút tươi vui rộn rã cho Người, muốn làm “đóa hoa” tỏa hương sắc nơi Người yên nghỉ và đặc biệt, muốn làm “cây tre trung hiếu” để nhập vào hàng tre bên lăng, canh giữ giấc ngủ bình yên cho Người. Điệp ngữ muốn làm và các hình ảnh liệt kê đã tạo nên nhịp điệu thơ dồn dập, diễn tả tình cảm tha thiết, khát vọng trào dâng mãnh liệt và ước nguyện chân thành của nhà thơ cũng như của toàn thể dân tộc Việt Nam với Bác. Một lần nữa hình ảnh cây tre lại xuất hiện tạo kết cấu đầu cuối tương ứng mang đến một ý thơ mới mẻ cây tre trung hiếu là hình ảnh ẩn dụ cho lòng kính yêu và ước nguyện thủy chung của dân tộc Việt Nam suốt đời đi theo lí tưởng của Người. Kết thúc bài thơ là sự xa cách về không gian địa lí nhưng lại gần gũi trong ý chí và tình cảm, bài thơ từ đây kết thúc nhưng tâm sự nhà thơ lại vút cao, một nỗi nhớ tiếc khôn nguôi, những nỗi niềm tự nguyện về cuộc đời mình để xứng đáng với Con Người khiêm nhường và vĩ đại. Đó cũng chính là nỗi niềm của muôn triệu con tim Việt Nam với đoạn văn nêu cảm nhận của em về vẻ đẹp của con người lao động trong bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận.1“Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận là bài ca tuyệt đẹp của con người lao động mới hăng say, khỏe khoắn giữa thiên nhiên kì ảo. 2Khi thiên nhiên bước vào trạng thái nghỉ ngơi khép lại một ngày với “mặt trời xuống biển”, “sóng cài then, đêm sập cửa” thì con người lại bắt đầu công việc của mình – ra khơi đánh cá. 3 Đó là một công việc thường nhật, đã trở thành nếp sinh hoạt của người dân chài.4Trên con thuyền ra khơi, họ mang theo âm hưởng tiếng hát hào hùng và sôi nổi“ Câu hát căng buồn cùng gió khơi”, tiếng hát như có sức mạnh thổi căng cánh buồm đẩy con thuyền chạy nhanh ra khơi , hình ảnh ẩn dụ thật đẹp đã nói lên niềm vui và sự hăng say đối với công việc lao động của những người dân chài. 5 Giữa bao la trời nước, con người hiện lên với niềm vui phơi phới, khỏe khoắn trong tư thế làm chủ cuộc đời, làm chủ quê hương, đất nước “Thuyền ta lái gió với buồm trăng/Lướt giữa mây cao với biển bằng”. 6Lấy gió làm lái, lấy trăng làm buồm, và giữa khoảng không bao la của vũ trụ vô tận ấy, trên thì có “mây cao”, dưới thì có “biển bằng”, cả đoàn thuyền “lướt” ra tận khơi xa để mà dò bụng biển tìm luồng cá, để mà bủa lưới vây giăng. 7 Vẫn là vũ trụ vô cùng vô tận, nhưng con người không còn cảm giác bé nhỏ mà ngược lại, họ đã tự nâng mình lên ngang tầm với thiên nhiên, vũ trụ trong tư thế của người chiến thắng. 8 Hình ảnh người dân chài không được trực tiếp miêu tả nhiều trong bài thơ, họ chỉ được đặc tả ở một hình ảnh duy nhất, trong dáng vẻ người lao động “ Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng”. 9 Chỉ một hình ảnh đó thôi cũng giúp ta hình dung được vẻ đẹp cường tráng, khỏe mạnh, ăn sóng nói gió của người dân chài. 10 Trong suốt hành trình của cuộc ra khơi, tiếng hát phấn chấn, tràn đầy lạc quan vẫn không ngừng vang lên, hát lúc ra khơi, trong lao động và cả khi thắng lợi trở về, câu hát ngân nga, khỏe khoắn trở thành hình ảnh ẩn dụ cho khí thế hứng khởi và niềm lạc quan, yêu đời của người lao động, tiếng hát ấy làm cho công việc lao động nặng nhọc trở nên nhẹ nhàng và đầy chất thơ. 11Sau một đêm lao động vất vả, họ vẫn giữ được khí thế náo nức, hăng say “Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời”. Một hình ảnh thơ đẹp và đầy sức gợi, “chạy đua cùng mặt trời” cũng có nghĩa là họ đang tiếp tục đua cùng với thiên nhiên, cùng thời gian để làm giàu cho Tổ quốc. 12 Hình ảnh người dân chài hiện lên thật đẹp, họ là đại diện cho vẻ đẹp người lao động thời đại mới trong tư thế làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời, bài thơ là bài hùng ca về người lao động. Viết đoạn văn nêu cảm nhận của em về bức tranh thiên nhiên trong Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận. 1“ Đoàn thuyền đánh cá ” không chỉ khắc họa thành công hình tượng con người lao động mà còn vẽ lên bức tranh sơn mài vừa hùng vĩ , tráng lệ, vừa lung linh, huyền ảo và rực rỡ, tươi sáng của biển Hạ Long. 2 Mở đầu bài thơ là một hình ảnh đẹp, kì vĩ, tráng lệ về cảnh biển Hạ Long khi hoàng hôn vừa buông xuống“ Mặt trời xuống biển như hòn lửa – Sóng đã cài then đêm sập cửa” . 3Phép so sánh “mặt trời” như “hòn lửa” đã gợi bao liên tưởng thú vị cho người đọc, sắc đỏ rực như lửa cháy của mặt trời hòa hợp với sắc xanh của biển tạo nên gam màu thật rực rỡ cho bức tranh sơn mài , mở ra một khung cảnh huy hoàng và tráng lệ.4 Nhà thơ khéo léo vận dụng nghệ thuật nhân hóa qua hai từ “ cài”, “sập” để biến những con sóng trở thành chiếc then cài ,màn đêm là cánh cửa để khép lại ngôi nhà vũ trụ, nhờ thế, biển vốn là thách thức và bí ẩn với con người giờ đây đã trở nên vô cùng thân quen và gần gũi. 5 Dưới đêm trăng, biển lại hiện lên thật lung linh và huyển ảo, thiên nhiên biển khơi là những đêm trăng đẹp “Thuyền ta lái gió với buồm trăng/ Lướt giữa mây cao với biển bằng” , câu thơ đầy ắp những hình ảnh của thiên nhiên , đó là một không gian biển khơi mênh mông, khoáng đạt , có gió lồng lộng thổi, có ánh sáng vằng vặc của vầng trăng, từng đám mây trôi nhè nhẹ trên tầng không , có mặt biển biếc xanh sâu thẳm.6 Vẻ đẹp của biển được tô điểm thêm bởi sắc màu của các loài cá quý chốn biển khơi chim, thu, nhụ, đé, song. 7 Hình ảnh ẩn dụ “ Cá song lấp lánh đuốc đen hồng” và hình ảnh nhân hóa “ Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe” thể hiện cái nhìn tinh tế và giàu liên tưởng của tác giả khiến biển đêm hiện lên như một bức tranh rực rỡ với những mảng màu lung linh đậm sắc. 8Đêm trên biển được tác giả miêu tả thật đặc biệt “ Đêm thở sao lùa nước Hạ Long” , màn đêm giống như một sinh thể khổng lồ, tiếng thở của đêm là tiếng thì thào của sóng – một hình ảnh đảo ngược, sóng biển đu đưa lùa bóng sao in dưới mặt nước nhưng dưới cái nhìn của nhà thơ thì đó là sao đang lùa sóng nước Hạ Long. 9 Đây quả là một hình ảnh lạ, một sự sáng tạo nghệ thuật của Huy Cận làm cho cảnh biển đêm thật sinh động. 10 Bình minh lên, vẻ đẹp của biển khơi lại được khắc họa trong ánh mặt trời, trong sắc màu lộng lẫy của cá – nhưng là cá trong khoang thuyền với “ Vẩy bạc, đuôi vàng lóe rạng đông” không phải cá dưới biển khơi. 11Hình ảnh “mặt trời đội biển” nhô lên trên sóng nước xanh lam thật đẹp, hùng vĩ và tráng lệ, dưới ánh sáng của vầng thái dương, mắt cá tựa như triệu triệu mặt trời nhỏ li ti, lấp lánh; thành quả lao động thêm rực rỡ, huy hoàng.12 Bằng bút pháp lãng mạn đan xen với hiện thực , nhà thơ đã khắc hoạ thành công bức tranh về thiên nhiên nơi biển cả ,những hình ảnh thiên nhiên hiện ra vừa bình dị vừa đẹp tươi thơ mộng,chắc chắn phải có một tâm hồn nhạy cảm, một tình yêu thiên nhiên tha thiết, Huy Cận mới sáng tạo nên những vần thơ tuyệt bút như đoạn văn phân tích sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người lao động trong bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá”. 1Bài thơ “ Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận đã thể hiện thật hay sự gắn kết hài hòa giữa thiên nhiên và con người lao động trong thời đại mới. 2 Mở đầu bài thơ là cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá vào lúc hoàng hôn, biển Hạ Long hiện lên thật rực rỡ, huy hoàng và tráng lệ “Mặt trời xuống biển như hòn lửa – Sóng đã cài then, đêm sập cửa”. 3Cảm hứng vũ trụ quen thuộc cùa thơ Huy Cận với những so sánh, liên tưởng bất ngờ, thú vị mặt trời như một hòn lửa đỏ rực khổng lồ, những lượn sóng dài như những then cài, đêm tối bao trùm trời đất như hai cánh cửa vĩ đại đang sập lại đã biến vũ trụ thiên nhiên như một ngôi nhà vĩ đại mà tạo hóa ban tặng cho con người. 4Từ đó, tác giả đã tạo ra một hình ảnh khỏe, lạ mà thật từ sự gắn kết ba sự vật và hiện tượng cánh buồm, gió khơi và câu hát của người đánh cá “Câu hát căng buồm cùng gió khơi”. 5 Câu hát là niềm vui, sự phấn chấn của người lao động như đã có một sức mạnh vật chất để cùng với ngọn gió làm căng buồm cho con thuyền lướt nhanh ra khơi, bắt đầu công việc đánh cá không ít khó khăn vất vá. 6Đó là khí thế hăm hở và đầy hào hứng của những con người yêu nghề, yêu biển. 7Cảm hứng lãng mạn khiến nhà thơ phát hiện những vẻ đẹp của cảnh đánh cá giữa biển đêm, trong niềm vui phơi phới, khỏe khoắn của người lao động làm chủ công việc của mình. 8 Con thuyền đánh cá vốn nhỏ bé trên biển cả bao la giờ đây qua cái nhìn của nhà thơ trở nên lớn lao, kì vĩ và ngang tầm vũ trụ “ Thuyền ta lái gió với buồm trăng – Lướt giữa mây cao với biển bằng”, một con thuyền đặc biệt có gió là người cầm lái, còn trăng là cánh buồm, gợi lên sự nhịp nhàng, hòa quyện của đoàn thuyền với biển trời. 9Tầm vóc của con người và đoàn thuyền đã được nâng lên, hòa nhập vào kích thước của thiên nhiên, vu trụ, hình ảnh thơ thật lãng mạn, bay bổng và con người có tâm hồn cũng thật vui vẻ, phơi phới niềm vui. 10Nhưng đây không phải là cuộc du ngoạn bằng thuyền mà đây là một cuộc chiến đấu thực sự, “dàn đan thế trận ”để giành lấy từ bàn tay thiên nhiên những của cải, tài nguyên bằng tất cả sức lực, trí tuệ của con người. 11Công việc lao động nặng nhọc của người đánh cá đã thành bài ca đầy niềm vui, nhịp nhàng cùng thiên nhiên. 12Màu cá trong đêm trăng dưới nước “Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe”, sắc cá dưới khoang thuyền dưới ánh mặt trời “Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông” đã tạo cho bức tranh thiên nhiên những nét vẽ đẹp, những gam màu tươi sáng, lộng lẫy đến kì lạ. 13Nhà thơ ca ngợi biển cả mênh mông – nguồn tài nguyên bất tận của Tổ quốc, ngợi ca những con người lao động cần cù, gan góc, ngày đêm làm giàu cho đất nước. 14Công việc lao động đánh cá của ngư dân Quảng Ninh trên biển Hạ Long được miêu tả trong sự thống nhất hòa quyện với thiên nhiên trời biển, trăng sao bát ngát, kì vĩ và bay bổng. 15Cảm hứng thiên nhiên, vũ trụ hòa hợp với cảm hứng lao động đã tạo nên vẻ đẹp riêng của bài thơ. Viết đoạn văn nêu cảm nhận của em về khổ thơThuyền ta lái gió với buồm trăngLướt giữa mây cao với biển bằng,Ra đậu dặm xa dò bụng biển,Dàn đan thế trận lưới vây trích trên được trích trong văn bản “ Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận – một nhà thơ nổi tiếng trong phong trào thơ mới, đoạn thơ đã rất thành công trong trong việc thể hiện hình ảnh con thuyền ra khơi. Hình ảnh con thuyền ra khơi được miêu tả trong một hình ảnh thơ thật đẹp, thật lãng mạn “ Thuyền ta laí gió với buồm trăng; Lướt giữa mây cao với biển bằng”. Con thuyền không chạy bằng sức mạnh của con người” phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang” như thơ Tế Hanh mà hoàn toàn do thiên nhiên trợ giúp. Hình ảnh ẩn dụ, cách nói phóng đại “lái gió, buồm trăng”, nhà thơ tưởng tượng gió là bánh lái, trăng là buồm, gió lái thuyền đi, thuyền đầy trăng sáng. Động từ “lướt” diễn tả tốc độ nhẹ nhàng thênh thang của đoàn thuyền giữa làn mây cao với mặt biển hiền hòa. Ta tưởng như cả đoàn thuyền trở thành mạch nối liền với thiên nhiên. Cả thiên nhiên là gió, trăng, mây, biển quay xung quanh con thuyền, đoàn thuyền là trung tâm, là linh hồn của đêm biển Hạ Long. Hệ thống các động từ “lái”, “lướt”, “dò”, “dàn” cho thấy hoạt động của đoàn thuyền và con thuyền đang làm chủ biển trời. Huy Cận đã phóng đại con người, lớn ngang tầm với thiên nhiên, vũ trụ và trong tư thế làm chủ thiên nhiên vũ trụ. Hình ảnh con thuyền chính là hình ảnh những người lao động. Chỉ vài nét chấm phá, Huy Cận // đã biến con người trở thành những nhà thám hiểm đại dương, những con thuyền của họ // ra khơi không phải đi đánh cá mà là để dò bụng biểncâu ghép. Trước con người lao động, biển khơi mênh mông là thế nhưng cũng hẹp lòng lại để con người chủ động thăm dò, khám phá. Sau khi thăm dò luồng cá, họ bắt đầu bước vào công việc lao động cũng bề thế như bước vào trận chiến “ Dàn đan thế trận lưới vây giăng”. Với Huy Cận, dường như lao động cũng là một mặt trận, mà ở đó mỗi người ngư dân là một chiến sĩ, ngư cụ là vũ khí. Tóm lại, hình ảnh đoàn thuyền đánh cá được Huy Cận miêu tả cụ thể và rất sinh động khi đánh cá trên nhận khổ thơ cuối “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” – Phạm Tiến có kính rồi xe không có đènKhông có mui xe, thùng xe có xước .Không có mui xe, thùng xe có xước .Xe vẫn chạy vì miền nam phía trướcChỉ cần trong xe có một trái tim.1Vẻ đẹp của những người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn với ý chí quyết tâm giải phóng Miền Nam đã được thể hiện thật hay trong khổ thơ cuối khép lại Bài thơ về tiểu đội xe không kính. 2Hình ảnh chiếc xe bị bom đạn Mĩ phá đến biến dạng một lần nữa xuất hiện góp phần khắc họa rõ nét hình ảnh người chiến sĩ lái xe dũng cảm Không có kính rồi xe không có đèn – Không có mui xe, thùng xe có xước. 3Chiến tranh càng ngày càng ác liệt, những chiếc xe “từ trong bom rơi” cũng ngày càng trơ trụi. 4Điệp ngữ không có được nhắc lại ba lần kết hợp với các hình ảnh liệt kê kính, đèn, mui xe, thùng xe như làm tăng thêm sự biến dạng của những chiếc xe, làm tăng thêm sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh. 5Nó vừa là một từ phủ định nhưng lại mang tính khẳng định cho những nguy hiểm cao độ với tính mạng của những người lính lái xe và ranh giới giữa sự sống – cái chết lại càng trở nên mong manh. 6Thế nhưng, “xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước”, câu thơ đã phần nào lột tả ý chí chiến đấu vì miền Nam của những người lính lái xe đẩy can đảm. 7Phó từ “ vẫn” chỉ sự tiếp diễn thể hiện ý chí quyết tâm phi thường của người lính, dù phải chịu bao nguy hiểm, khó khăn, họ cũng không lùi bước.8 Câu thơ cuối đã lí giải vì sao chiếc xe ngày càng hỏng hóc biến dạng mà vẫn có thể tiếp tục chạy, ấy là vì “Chỉ cần trong xe có một trái tim”. 9Giữa muôn vàn cái khó khăn, thiếu thốn, cái “không có” của những chiếc xe là một cái “có” đầy ý nghĩa, cái “có” đó là trái tim rực lửa, sẵn sàng hi sinh chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc của những người lính. 10Trái tim vừa là hình ảnh hoán dụ để chỉ người lính, vừa là hình ảnh ẩn dụ để chỉ cho những lí tưởng cao đẹp, sống cống hiến hết mình vì nhiệm vụ cao cả với non sông, đất nước của các anh. 11Hình ảnh trái tim kết hợp với từ “chỉ”, “một ” như nhấn mạnh trái tim yêu nước chính là điều quan trọng nhất để người lính hướng về miền Nam phía trước.12 Ngôn ngữ thơ bình dị, tự nhiên, giọng điệu thơ dí dỏm, ngang tàng đã thể hiện thật hay vẻ đẹp của người lính trên chuyến xe lao ra mặt ra mặt trận, họ mang trong mình truyền thống yêu nước của dân tộc thật đáng yêu quý và cảm phục biết bao! Viết đoạn văn nêu cảm nhận của em về những câu thơ sauUng dung buồng lái ta ngồi,Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thấy gió vào xoa mắt đắngNhìn thấy con đường chạy thẳng vào timThấy sao trời và đột ngột cánh chimNhư sa, như ùa vào buồng láiĐoạn thơ trên trích trong văn bản “ Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của tác giả Phạm Tiến Duật, sáng tác năm 1969, đã rất thành công trong việc thể hiện tư thế của người lính lái xe Trường Sơn ung dung, hiên ngang, sẵn sàng ra trận1. Thủ pháp đảo ngữ, đưa từ “ung dung” đứng đầu câu gợi sự bình thản, điềm tĩnh đến kì lạ của người lính2. “Nhìn thẳng” là cái nhìn đầy tự chủ, trang nghiêm, bất khuất, không thẹn với trời đất, nhìn thẳng vào gian khổ, hi sinh không run sợ3. Điệp từ “nhìn” được nhắc lại ba lần, cộng với nhịp thơ dồn dập, giọng thơ mạnh mẽ đã thể hiện cái nhìn thoáng đạt, bao la giữa chiến trường của người lính4. Thủ pháp liệt kê “nhìn đất”, “nhìn trời”, “nhìn thẳng” đã cho thấy tư thế vững vàng, bình thản, dũng cảm của những người lính lái xe5. Họ nhìn thẳng vào bom đạn của kẻ thù, nhìn thẳng vào con đường đang bị bắn phá để lái xe vượt qua 6.Tư thế ung dung, hiên ngang của người lính lái xe ra trận được khắc họa thêm đậm nét qua những hình ảnh hòa nhập vào thiên nhiên7. Tác giả đã mở ra một không gian rộng lớn với những con đường dài phía trước, có gió thổi, có cánh chim chiều và những cánh sao đêm8. Dường như thiên nhiên, vũ trụ như đang ùa vào buồng lái9. Điệp từ, điệp ngữ “nhìn thấy … nhìn thấy … thấy” đã gợi tả được những đoàn xe không kính nối đuôi nhau hành quân ra chiến trường10. Hình ảnh nhân hóa chuyển đổi cảm giác “vào xoa mắt đắng”, thể hiện tinh thần dũng cảm, bất chấp khó khăn của người lính lái xe11. Hình ảnh “con đường chạy thẳng vào tim” Gợi liên tưởng đến những chiếc xe phóng với tốc độ nhanh như bay. Lúc đó, giữa các anh với con đường dường như không còn khoảng cách, khiến các anh có cảm giác con đường như đang chạy thẳng vào tim12. Đồng thời, cho thấy tinh thần khẩn trương cảu các anh đối với sự nghiệp giải phóng Miền Nam13. Đặc biệt, hình ảnh so sánh “như sa, như ùa vào buồng lái” đã diễn tả thật tài tình về tốc độ phi thường của tiểu đội xe không kính khi ra trận. Cả một bầu trời đêm như ùa vào buồng lái14. Có thể nói, hiện thực chiến trường trong khổ thơ trên chính xác đến từng chi tiết, và đằng sau hiện thực đó là một tâm trạng, một tư thế, một bản lĩnh chiến đấu ung dung, vững vàng của người lính trước những khó khăn, thử thách khốc liệt của chiến tranh15. đoạn văn nêu cảm nhận của em về đoạn thơ sauKhông có kính, ừ thì có bụi,Bụi phun tóc trắng như người giàChưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốcNhìn nhau mặt lấm cười ha có kính, ừ thì ướt áoMưa tuôn, mưa xối như ngoài trờiChưa cần thay, lái trăm cây số nữaMưa ngừng, gió lùa khô mau khổ thơ trên được trích trong văn bản “ Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của tác giả Phạm Tiến Duật sáng tác năm 1969 đã rất thành công trong việc thể hiện tinh thần bất chấp gian khổ, coi thường hiểm nguy của những người lính lái xe. Những gian khổ, hiểm nguy đã trở thành cuộc sống của những người lính lái xe Trường Sơn. Dù trong bất kì hoàn cảnh, tình thế nào, người lính vẫn tìm được tinh thần lạc quan để chiến đấu và chiến thắng quân thù. Hình ảnh “gió”, “bụi”, “mưa” tượng trưng cho những gian khổ, thử thách nơi chiến trường. Cấu trúc lặp “không có …, ừ thì…” đi liền với kết cấu phủ định “chưa có …” ở hai khổ thơ đã thể hiện thái độ bất chấp khó khăn, coi thường gian khổ của những chiến sĩ lái xe Trường Sơn. Hình ảnh so sánh “Bụi phun tóc trắng như người già” và “Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời” nhấn mạnh sự khắc nghiệt của thiên nhiên và chiến trường, đồng thời cho thấy sự ngang tàn, phơi phới lạc quan, dũng mãnh tiến về phía trước của người lính lái xe Trường Sơn. Hình ảnh “phì phéo châm điếu thuốc” và “lái trăm cây số nữa” cho thấy người lính bất chấp gian khổ, coi thường những hiểm nguy, thử thách. Ngôn ngữ giản dị như lời nói thường ngày, giọng điệu thì thản nhiên, hóm hỉnh … làm nổi bật niềm vui, tiếng cười của người lính, cất lên một cách tự nhiên giữa gian khổ, hiểm nguy của cuộc chiến đấu. Phải chăng tiểu đội xe không kính tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng và thanh niên Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước gian khổ mà oai hùng? Viết đoạn văn làm sáng rõ chủ đề “Bà là người nhóm lửa, truyền lửa và giữ lửa”. Bà là người nhóm lửa, truyền lửa và giữ lửa. “Lửa” ở đây có lẽ không còn là ngọn lửa thực bập bùng ẩn hiện khi sớm khi chiều mà đã mang nét nghĩa biểu tượng lửa của tình yêu thương, của niềm tin, hi vọng,….Bà là người nhóm lửa bởi bà là người đã nhóm lên ngọn lửa về tuổi thơ đẹp đẽ nhất của cháu. Tuổi thơ của cháu dù trải qua những nhọc nhằn, vất vả nhưng luôn hạnh phúc vì cháu được sống trong tình yêu thương của bà, trong sự đùm bọc, sẻ chia tình làng nghĩa xóm. Bên bếp lửa hồng ấm áp của bà, cháu được nghe bà kể những chuyện đời xưa, đời nay, được bà bảo, bà dạy, bà chăm tận tình , ấm áp. Bên bếp lửa ấy, cháu cảm nhận thấm thía tình yêu thương của bà qua “khoai sắn ngọt bùi”, cảm được tình cảm xóm giềng thắm thiết qua “nồi xôi gạo mới xẻ chung vui” và hơn hết, bà đã nhóm lên những “tâm tình tuổi nhỏ” trong cháu, những kí ức tuyệt vời có sức nâng đỡ và tỏa sáng tâm hồn cháu trong mỗi hành trình dài rộng của cuộc đời. Bà không chỉ nhóm lửa mà còn giữ lửa. Ngọn lửa của tình yêu thương, của niềm tin chưa bao giờ bị dập tắt trong lòng bà dù cuộc sống có cực khổ, cơ hàn đến bao nhiêu chăng nữa. Thời gian chảy trôi, những năm tháng đói nghèo quay quắt cũng qua đi, cháu đã lớn khôn nhưng “bà vẫn giữ thói quen dậy sớm”, vẫn cần cù với công việc thầm lặng. Ngọn lửa của tình yêu thương, của niềm tin vào ngày mai tươi sáng vẫn luôn ấp ủ trong lòng bà. Trong hoàn cảnh đất nước đau thương, cơ hàn, giặc dã, ngọn lửa ấy luôn tỏa sáng trong lòng bà để biến thành nghị lực phi thường vượt qua mọi khó khăn, nó tựa như ánh sáng cuối đường hầm để người ta có niềm tin bước tới, chiến thắng sự khốc liệt của thực tại. Bà nhóm lửa, giữ lửa và bà còn truyền ngọn lửa rực cháy ấy cho cháu. Ngọn lửa tình yêu thương của bà giúp cho cháu biết sống yêu thương, thủy chung và tình nghĩa; ngọn lửa niềm tin trong lòng bà đã truyền cho cháu tinh thần lạc quan và ước mơ tươi sáng của ngày mai, giúp cháu vượt qua được khó khăn, khốc liệt ở thực tại. Nhờ có ngọn lửa yêu thương và niềm tin bà đã truyền cho cháu, cháu có thêm nghị lực, thêm ý chí để thực hiện những ước mơ, đủ tự tin để vươn tới những chân trời cao rộng. Bà gửi vào tâm hồn cháu những kí ức đẹp của tuổi thơ , để rồi khi đi xa, đến mọi phương trời xa lạ, cháu vẫn nhớ những hình ảnh thân thương về bà và bếp lửa nồng ấm. Bà chính là hiện thân của tình yêu thương, của đức hi sinh, của bản lĩnh và nghị lực mạnh mẽ, những tình cảm nồng ấm bên bà chính là gói hành trang tinh thần để cháu sải bước trên đường đời rộng mở. Ngày đăng 04/05/2015, 1459 LUYỆN TẬP VIẾT ĐOẠN VĂN HƯỚNG DẪN CHUNG I. Thế nào là đoạn văn? Khái niệm đoạn văn ở trường phổ thông hiện nay được hiểu theo nhiều cách khác nhau - Cách hiểu thứ nhất đoạn ý Đoạn văn được dùng với ý nghĩa để chỉ sự phân đoạn nội dung, phân đoạn ý của văn bản. Một văn bản bao gồm nhiều đoạn văn Đoạn mở đầu văn bản, những đoạn khai triển văn bản, đoạn kết thúc văn bản. Mỗi đoạn phải có sự hoàn chỉnh nhất định nào đó về mặt ý, về mặt nội dung. Nhưng thế nào là một nội dung, một ý hoàn chỉnh thì không có tiêu chí để xác định rõ ràng. Một văn bản, tuỳ theo người đọc cảm nhận mà phân chia ra thành các đoạn, sự phân chia có thể không thống nhất giữa những người đọc có người chia theo ý lớn, có người chia theo ý nhỏ. Ý lớn là đoạn bài có hai hoặc ba ý nhỏ được khai triển từ ý lớn, bao gồm hai hoặc ba đoạn văn ngắn, mỗi đoạn ngắn đó là một ý nhỏ, các đoạn này hợp ý với nhau thành một ý lớn; ý nhỏ là ý được khai triển từ ý lớn, về mặt nội dung chỉ triển khai theo một phương diện, một hướng cụ thể, mỗi ý nhỏ là một đoạn. Cách hiểu này khiến cho cách phân đoạn thiếu tính khách quan. Với cách hiểu này, diện mạo đoạn văn không được xác định đoạn văn bắt đầu từ đâu, như thế nào, các câu văn trong đoạn có mối liên kết với nhau như thế nào,… cho nên việc xây dựng đoạn văn trở nên khó khăn, phức tạp, khó rèn luyện các thao tác để trở thành kĩ năng kĩ xảo. - Cách hiểu thứ hai đoạn lời Đoạn văn được hiểu là sự phân chia văn bản thành những phần nhỏ, hoàn toàn dựa vào dấu hiệu hình thức một đoạn văn bao gồm những câu văn nằm giữa hai dấu chấm xuống dòng. Cách hiểu này không tính tới tiêu chí nội dung, cơ sở ngữ nghĩa của đoạn văn. Với cách hiểu này, việc rèn luyện xây dựng đoạn văn càng trở nên mơ hồ, khó xác định vì đoạn văn không được xây dựng trên một cơ sở chung nào vì hình thức bao giờ cũng phải đi đôi với nội dung, bao chứa một nội dung nhất định và phù hợp với nội dung mà nó bao chứa. - Cách hiểu thứ ba đoạn văn xét thao cả hai tiêu chí về ý và về lời Đoạn văn vừa là kết quả của sự phân đoạn văn bản về nội dung dựa trên cơ sở logic ngữ nghĩa vừa là kết quả của sự phân đoạn về hình thức dựa trên dấu hiệu hình thức thể hiện văn bản. Về mặt nội dung, đoạn văn là một ý hoàn chỉnh ở một mức độ nhất định nào đó về logic ngữ nghĩa, có thể nắm bắt được một cách tương đối dễ dàng. Mỗi đoạn văn trong văn bản diễn đạt một ý, các ý có mối liên quan chặt chẽ với nhau trên cơ sở chung là chủ đề của văn bản. Mỗi đoạn trong văn bản có một vai trò chức năng riêng và được sắp xếp theo một trật tự nhất định đoạn mở đầu văn bản, các đoạn thân bài của văn bản các đoạn này triển khai chủ đề của văn bản thành các khía cạch khác nhau, đoạn kết thúc văn bản. Mỗi đoạn văn bản khi tách ra vẫn có tính độc lập tương đối của nó nội dung của đoạn tương đối hoàn chỉnh, hình thức của đoạn có một kết cấu nhất định. Về mặt hình thức, đoạn văn luôn luôn hoàn chỉnh. Sự hoàn chỉnh đó thể hiện ở những điểm sau mỗi đoạn văn bao gồm một số câu văn nằm giữa hai dấu chấm xuống dòng, có liên kết với nhau về mặt hình thức, thể hiện bằng các phép liên kết; mỗi đoạn văn khi mở đầu, chữ cái đầu đoạn bao giờ cũng được viết hoa và viết lùi vào so với các dòng chữ khác trong đoạn. Đây là cách hiểu hợp lí, thoả đáng hơn cả giúp người đọc nhận diện đoạn văn trong văn bản một cách nhanh chóng, thuận lợi đồng thời giúp người viết tạo lập văn bản bằng cách xây dựng từng đoạn văn được rõ ràng, rành mạch. Ví dụ về đoạn văn “ Vì ông lão yêu làng tha thiết nên vô cùng căm uất khi nghe tin dân làng theo giặc1. Hai tình cảm tưởng chừng mâu thuẫn ấy đã dẫn đến một sự xung đột nội tâm dữ dội 2. Ông Hai dứt khoát lựa chọn theo cách của ông Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù 3. Đây là một nét mới trong tình cảm của người nông dân thời kì đánh Pháp4. Tình cảm yêu nước rộng lớn hơn đã bao trùm lên tình cảm đối với làng quê5. Dù đã xác định như thế, nhưng ông Hai vẫn không thể dứt bỏ tình yêu đối với quê hương; vì thế mà ông xót xa cay đắng”6. Về nội dung - Chủ đề của đoạn văn trên là tâm trạng mâu thuẫn của ông Hai khi nghe tin làng mình theo giặc. Chủ đề này tập trung khái quát ở câu1,2. - Đoạn văn trên có ba phần + Câu 1,2 là phần mở đoạn. Phần này chứa đựng ý khái quát của cả đoạn văn, gọi là câu chủ đề. Câu chủ đề có thể là một hoặc hai câu văn. + Câu 3,4,5 là phần thân đoạn. Phần này triển khai đoạn văn, mỗi câu văn đề cập tới một biểu hiện cụ thể của chủ đề, liên quan tới chủ đề của đoạn văn. + Câu 6 là phần kết đoạn. Phần này khắc sâu chủ đề của đoạn văn. - Đây là đoạn văn có kết cấu đầy đủ cả ba phần mở đoạn, thân đoạn và kết đoạn. Khi viết đoạn văn, không phải bao giờ cũng nhất thiết có đủ ba phần như vậy. Ví dụ Đoạn quy nạp, câu mở đầu đoạn không chứa đựng ý khái quát mà là câu cuối cùng; đoạn diễn dịch, câu cuối cùng kết thúc đoạn không chưa đựng ý khái quát, chủ đề đã được nêu rõ ở câu mở đoạn. Về hình thức - Đoạn văn trên được tạo thành bằng 6 câu văn được liên kết với nhau bằng các phép liên kết hình thức phép thế, phép lặp. - Đoạn văn trên được viết giữa hai dấu chấm xuống dòng, chữ cái đầu đoạn được viết lùi vào một chữ và viết hoa. II. Kết cấu đoạn văn. Trong văn bản, nhất là văn nghị luận, ta thường gặp những đoạn văn có kết cấu phổ biến quy nạp, diễn dịch, tổng phân hợp; bên cạnh đó là đoạn văn có kết cấu so sánh, nhân quả, vấn đáp, đòn bẩy, nêu giả thiết, hỗn hợp,… 1. Đoạn diễn dịch. Đoạn diễn dịch là một đoạn văn trong đó câu chủ đề mang ý nghĩa khái quát đứng ở đầu đoạn, các câu còn lại triển khai ý tưởng chủ đề, mang ý nghĩa minh hoạ, cụ thể. Các câu triển khai được thực hiện bằng các thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận; có thể kèm những nhận xét, đánh giá và bộc lộ sự cảm nhận của người viết. Ví dụ Đoạn văn diễn dịch, nội dung nói về cá tính sáng tạo trong sáng tác thơ “ Sáng tác thơ là một công việc rất đặc biệt, rất khó khăn, đòi hỏi người nghệ sĩ phải hình thành một cá tính sáng tạo1.Tuy vậy, theo Xuân Diệu - tuyệt nhiên không nên thổi phồng cái cá biệt, cái độc đáo ấy lên một cách quá đáng2. Điêù ấy không hợp với thơ và không phải phẩm chất của người làm thơ chân chính3. Hãy sáng tác thơ một cách tự nhiên, bình dị, phải đấu tranh để cải thiện cái việc tự sáng tạo ấy không trở thành anh hùng chủ nghĩa4 .Trong khi sáng tác nhà thơ không thể cứ chăm chăm mình phải ghi dấu ấn của mình vào trong bài thơ này, tập thơ nọ5. Chính trong quá trình lao động dồn toàn tâm toàn ý bằng sự xúc cảm tràn đầy, có thể nhà thơ sẽ tạo ra được bản sắc riêng biệt một cách tự nhiên, nhà thơ sẽ biểu hiện được cái cá biệt của mình trong những giây phút cầm bút”6 Mô hình đoạn văn Câu 1 là câu mở đoạn, mang ý chính của đoạn gọi là câu chủ đề. Bốn câu còn lại là những câu triển khai làm rõ ý của câu chủ đề. Đây là đoạn văn giải thích có kết cấu diễn dịch. 2. Đoạn quy nạp. Đoạn văn quy nạp là đoạn văn được trình bày đi từ các ý chi tiết, cụ thể nhằm hướng tới ý khái quát nằm ở cuối đoạn. Các câu trên được trình bày bằng thao tác minh hoạ, lập luận, cảm nhận và rút ra nhận xét, đánh giá chung. Ví dụ Đoạn văn quy nạp, nội dung nói về đoạn kết bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu. “ Chính Hữu khép lại bài thơ bằng một hình tượng thơ Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo1. Đêm khuya chờ giặc tới, trăng đã xế ngang tầm súng2. Bất chợt chiến sĩ ta có một phát hiện thú vị Đầu súng trăng treo3. Câu thơ như một tiếng reo vui hồn nhiên mà chứa đựng đầy ý nghĩa4. Trong sự tương phản giữa súng và trăng, người đọc vẫn tìm ra được sự gắn bó gần gũi5. Súng tượng trưng cho tinh thần quyết chiến quyết thắng kẻ thù xâm lược6. Trăng tượng trưng cho cuộc sống thanh bình, yên vui7. Khẩu súng và vầng trăng là hình tượng sóng đôi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam bất khuất và hào hoa muôn thuở8. Chất hiện thực nghiệt ngã và lãng mạng bay bổng đã hoà quyện lẫn nhau tạo nên hình tượng thơ để đời9. Mô hình đoạn văn Tám câu đầu triển khai phân tích hình tượng thơ trong đoạn cuối bài thơ “Đồng chí”, từ đó khái quát vấn đề trong câu cuối – câu chủ đề, thể hiện ý chính của đoạn đánh giá về hình tượng thơ. Đây là đoạn văn phân tích có kết cấu quy nạp. 3. Đoạn tổng phân hợp. Đoạn văn tổng phân hợp là đoạn văn phối hợp diễn dịch với quy nạp. Câu mở đoạn nêu ý khái quát bậc một, các câu tiếp theo khai triển ý khái quát, câu kết đoạn là ý khái quát bậc hai mang tính chất nâng cao, mở rộng. Những câu khai triển được thực hiện bằng thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận, nhận xét hoặc nêu cảm tưởng, để từ đó đề xuất nhận định đối với chủ đề, tổng hợp lại, khẳng định thêm giá trị của vấn đề. Ví dụ Đoạn văn tổng phân hợp, nội dung nói về đạo lí uống nước nhớ nguồn “ Lòng biết ơn là cơ sở của đạo làm người1. Hiện nay trên khắp đất nước ta đang dấy lên phong trào đền ơn đáp nghĩa đối với thương binh, liệt sĩ, những bà mẹ anh hùng, những gia đình có công với cách mạng2. Đảng và Nhà nước cùng toàn dân thực sự quan tâm, chăm sóc các đối tượng chính sách3. Thương binh được học nghề, được trợ vốn làm ăn; các gia đình liệt sĩ, các bà mẹ Việt Nam anh hùng được tặng nhà tình nghĩa, được các cơ quan đoàn thể phụng dưỡng, săn sóc tận tình4. Rồi những cuộc hành quân về chiến trường xưa tìm hài cốt đồng đội, những nghĩa trang liệt sĩ đẹp đẽ với đài Tổ quốc ghi công sừng sững, uy nghiêm, luôn nhắc nhở mọi người, mọi thế hệ hãy nhớ ơn các liệt sĩ đã hi sinh anh dũng vì độc lập, tự do… 5Không thể nào kể hết những biểu hiện sinh động, phong phú của đạo lí uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta6. Đạo lí này là nền tảng vững vàng để xây dựng một xã hội thực sự tốt đẹp7. Mô hình đoạn văn Đoạn văn gốm bảy câu - Câu đầu tổng Nêu lên nhận định khái quát về đạo làm người, đó là lòng biết ơn. - Năm câu tiếp phân Phân tích để chứng minh biểu hiện của đạo lí uống nước nhớ nguồn. - Câu cuối hợp Khẳng định vai trò của đạo lí uống nước nhớ nguồn đối với việc xây dựng xã hội. Đây là đoạn văn chứng minh có kết cấu tổng phân hợp. 4. Đoạn so sánh So sánh tương đồng. Đoạn so sánh tương đồng là đoạn văn có sự so sánh tương tự nhau dựa trên một ý tưởng so sánh với một tác giả, một đoạn thơ, một đoạn văn,… có nội dung tương tự nội dung đang nói đến. Ví dụ 1 Đoạn văn so sánh tương đồng, nội dung nói về câu thơ kết trong bài “ Nghe tiếng giã gạo” của Hồ Chí Minh Ngày trước tổ tiên ta có câu “ Có công mài sắt có ngày nên kim”1. Cụ Nguyễn Bá Học , một nho sĩ đầu thế kỉ XX cũng viết “Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”2. Sau này, vào đầu những năm 40, giữa bóng tối ngục tù của Tưởng Giới Thạch, nhà thơ Hồ Chí Minh cũng đã đề cập tới tính kiên nhẫn, chấp nhận gian lao qua bài thơ “ Nghe tiếng giã gạo”, trong đó có câu “ Gian nan rèn luyện mới thành công”3. Câu thơ thể hiện phẩm chất tốt đẹp, ý chí của Hồ Chí Minh đồng thời còn là châm ngôn rèn luyện cho mỗi chúng ta4. Mô hình đoạn văn Câu nói của tổ tiên, câu nói của Nguyễn Bá Học câu 1,2 có nội dung tương đương với nội dung câu thơ của Hồ Chí Minh 4. Đây là đoạn văn mở bài của đề bài giải thích câu thơ trích trong bài “ Nghe tiếng giã gạo” của Hồ Chí Minh có kết cấu so sánh tương đồng. Ví dụ 2 Đoạn văn so sánh tương đồng, nội dung nói về hình ảnh “vầng trăng” trong bài “Ánh trăng” của Nguyễn Duy “ Tuổi thơ Nguyễn Duy gắn bó với trăng và cả khi trở thành người lính thì trăng vẫn là người bạn tri kỉ“hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thảnh tri kỉ”.1 Bằng nghệ thuật nhân hoá, Nguyễn Duy đã khắc hoạ vẻ đẹp tình nghĩa, thuỷ chung của hai người bạn trăng và người lính, người lính và trăng2. Cuộc sống trong rừng thời chiến tranh biết bao gian khổ, khó khăn nhưng trăng vẫn đến với người lính bằng một tình cảm chân thành, nồng hậu, không chút ngần ngại3. Trăng đến toả ánh sáng dịu mát cho giấc ngủ người chiến sĩ “ Gối khuya ngon giấc bên song trăng nhòm” Hồ Chí Minh 4. Trăng đến bên người chiến sĩ cùng chờ giặc tới trong những đên khuya sương muối “Đầu súng trăng treo” Chính Hữu5. Ánh trăng cùng với người lính qua biết bao năm tháng gian khổ của đất nước để vượt lên mọi sự tàn phá của quân thù “Và vầng trăng, vầng trăng đất nước Vượt qua quầng lửa, mọc lên cao”. Phạm Tiến Duật 6. Trăng với người lính trong thơ thật gần gũi và gắn bó 7. Đặc biệt, trong thơ Nguyễn Duy ánh trăng đã trở thành một biểu tượng cao đẹp “ vầng trăng tri kỉ”, “vầng trăng tình nghĩa” 9. Ví dụ 3 Đoạn văn so sánh tương đồng, nội dung nói về lòng yêu làng, yêu nước của ông Hai trong tác phẩm “ Làng” của Kim Lân Trong con người ông Hai, tình cảm dành cho làng gắn liền với lòng yêu nước. Tình yêu quê hương là cội nguồn của lòng yêu nước. Đúng như I – li – a Ê – ren – bua, một nhà văn Liên Xô cũ đã viết “ Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất…Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên tình yêu Tổ quốc”. Với ông Hai, chân lí ấy càng đúng hơn bao giờ hết. Từ chỗ yêu con đường làng, yêu những mái nhà ngói,…tình cảm của ông Hai đã tiến dần lên lòng yêu nước mà lòng yêu nước sâu nặng thầm kín ấy lại bừng sáng rực rỡ, lung linh trong tâm hồn ông. Tình yêu làng được nâng cao, được vút lên thành đỉnh cao của vẻ đẹp trong nhân vật ông Hai mà Kim Lân tập trung khắc hoạ, tô đậm rõ nét. Vì yêu nước nên ông Hai căm thù bọn người phản bội đất nước. Khi nghe tin làng chợ Dầu theo Tây ông đã rít lên “ Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này!”. Tiếng rít ấy thể hiện sự căm giận đang bốc lên ngùn ngụt, thể hiện sự dồn nén kìm hãm đã ghê gớm lắm rồi trong lòng ông. Lời nói ấy ẩn chứa biết bao nhiêu oán trách, khinh bỉ, khổ đau. Cũng vì yêu nước mà chiều nào ông cũng tìm đến phòng thông tin nghe tin tức về cuộc kháng chiến. Ông hả lòng, hả dạ, sung sướng, tự hào trước những chiến tích anh hùng của mọi người dân trong cả nước. Điều đó thể hiện chân thực tấm lòng ông Hai dành cho đất nước. So sánh tương phản. Đoạn so sánh tương phản là đoạn văn có sự so sánh trái ngược nhau về nội dung ý tưởng những hình ảnh thơ văn, phong cách tác giả, hiện thực cuộc sống,…tương phản nhau. Ví dụ 1 Đoạn văn so sánh tương phản, nội dung nói về việc học hành Trong cuộc sống, không thiếu những người cho rằng cần học tập để trở thành kẻ có tài, có tri thức giỏi hơn người trước mà không hề nghĩ tới việc rèn luyện đạo đức, lễ nghĩa vốn là giá trị cao quý nhất trong các giá trị của con người 1. Những người ý luôn hợm mình, không chút khiêm tốn, đôi khi trở thành người vô lễ, có hại cho xã hội2. Đối với những người ấy, chúng ta cần giúp họ hiểu rõ lời dạy của cổ nhân “ Tiên học lễ, hậu học văn” 3. Mô hình đoạn văn Ý tưởng của đoạn văn là nói về quan niệm của việc học học để làm người. Câu 1,2 nêu nội dung trái ngược với ý tưởng; câu 3 nêu ý tưởng. Nội dung tương phản với ý tưởng bao giờ cũng được đề cập trước, sau đó dẫn đến nội dung chính của ý tưởng. Đây là đoạn văn mở bài, giải thích câu nói của Khổng Tử “ Tiên học lễ, hậu học văn”. Ví dụ 2 Đoạn văn so sánh tương phản, nội dung nói về phẩm chất của con người mới trong “ Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long Thực lòng mà nói, giữa bao lo toan hối hả của cuộc sống thường ngày, có khi nào ta dành ra được những phút tĩnh lặng của cuộc đời, để lắng nghe nhịp đập bên trong thầm lặng của cuộc sống. Đọc “ Lặng lẽ Sa Pa”, ta giật mình bởi những điều Nguyễn Thành Long nói tới mà ta quen nghĩ, quen nhìn hời hợt, nông cạn theo một công thức đã có sẵn mà không chịu đi sâu tìm tòi, phát hiện bản chất bên trong của nó “ Trong cái lặng im của Sa Pa, dưới những dinh thự cũ kĩ của Sa Pa, Sa Pa mà chỉ nghe tên, người ta đã nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi, có những con người làm việc và suy nghĩ” hết mình cho đất nước, cho cuộc sống hôm nay. 5. Đoạn nhân quả. Trình bày nguyên nhân trước, chỉ ra kết quả sau. Đoạn văn có kết cấu hai phần, phần trước trình bày nguyên nhân, phần sau trình bày kết quả của sự việc, hiện tượng, vấn đề,… Ví dụ 1 Đoạn văn nhân quả, nội dung nói về chi tiết Vũ Nương sống lại dưới thuỷ cung trong “ Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ “ Câu chuyện lẽ ra chấm hết ở đó nhưng dân chúng không chịu nhận cái tình thế đau đớn ấy và cố đem một nét huyền ảo để an ủi ta1. Vì thế mới có đoạn hai, kể chuyện nàng Trương xuống thuỷ cung và sau lại còn gặp mặt chồng một lần nữa2.” Ví dụ 2 Đoạn văn nhân quả, nội dung nói tới lời khuyên về lòng biết ơn của con cái với cha mẹ trong một bài ca dao Núi Thái Sơn là núi cao nhất, đồ sộ nhất, vững chãi nhất ở Trung Quốc, cũng như tình cha mạnh mẽ, vững chắc1. Chính người đã dạy dỗ hướng cho ta về lẽ phải và truyền thêm cho ta sức mạnh để bay vào cuộc sống2. Và thông qua hình tượng nước trong nguồn, dòng nước tinh khiết nhất, mát lành nhất, dạt dào mãi chẳng bao giờ cạn, ta cảm nhận ró được tình yêu của mẹ mới thật ngọt ngào, vô tận và trong lành biết bao nhiêu3. Từ những hình ảnh cụ thể ấy mà ta có thể thấy được ý nghĩa trừu tượng về công cha nghĩa mẹ4. Công ơn đó, ân nghĩa đó to lớn sâu nặng xiết bao; chính vì vậy mà chỉ có những hình tượng to lớn bất diệt của thiên nhiên kì vĩ mới sánh bằng5.Vì thế mà người xưa mới khuyên nhủ chúng ta phải làm tròn chữ hiếu, để bù đắp phần nào nỗi cực nhọc, cay đắng của cha mẹ đã phải trải qua vì ta”6. Mô hình đoạn văn Ý tưởng của đoạn văn là giải thích ý nghĩa câu ca dao. Sáu câu trên giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng của hình ảnh trong câu ca dao, nêu nguyên nhân. Câu 6 là kết luận về lời khuyên, nêu kết quả Chỉ ra kết quả trước, trình bày nguyên nhân sau. Đoạn văn có kết cấu hai phần. Phần đầu nêu kết quả, phần sau nêu nguyên nhân. Ví dụ Đoạn văn nhân quả, nội dung nói về lòng hiếu nghĩa của Kiều trong lúc lưu lạc Chính trong hoàn cảnh lưu lạc quê người của nàng ta mới thấy hết được tấm lòng chí hiếu của người con gái ấy1. Nàng biết sẽ còn bao cơn “ cát dập sóng vùi” nhưng nàng vẫn chỉ lo canh cánh lo cho cha mẹ thiếu người đỡ đần phụng dưỡng vì hai em còn “ sân hoè đôi chút thơ ngây”2. Bốn câu mà dùng tới bốn điển tích “người tựa cửa”, “ quạt nồng ấp lạnh”, “sân lai”, “ gốc tử3”. Nguyễn Du đã làm cho nỗi nhớ của Kiều đậm phần trang trọng, thiết tha và có chiều sâu nhưng cũng không kém phần chân thực4. Mô hình đoạn văn Ý tưởng của đoạn bình về lòng hiếu của Kiều. Câu 1 nêu kết quả, ba câu còn lại nêu nguyên nhân 6. Đoạn vấn đáp. Đoạn văn vấn đáp là đoạn văn có kết cấu hai phần, phần đầu nêu câu hỏi, phần sau trả lời câu hỏi. Nội dung hỏi đáp chính là chủ đề của đoạn văn. Trong kiểu kết cấu này, phần sau có thể để người đọc tự trả lời. Ví dụ Đoạn văn vấn đáp, nội dung nói về cái hồn dân tộc trong bài “Ông đồ” của Vũ Đình Liên Cứ đọc kĩ mà xem, sẽ thấy cái xót xa thấm đậm quay cuồng trong câu hỏi cuối “ Những người muôn năm cũ”, những người ấy là những tâm hồn đẹp thanh cao bên câu đối đỏ của ông đồ, hay những ông đồ trên phố phường Hà Nội xưa1? Tôi nghĩ là cả hai2. Thắc mắc của tác giả rất có lí, và chính vì có lí nên nó thật tàn nhẫn và đau lòng3. Những cái đẹp cao quý sâu kín, cái đẹp của hồn người Hà Nội, cái đẹp của hồn Việt Nam cứ ngày càng mai một, càng bị cuộc sống với những quy tắc rất thực tế lấn át, chà đạp và xô đẩy sang lề đường để rồi biến mất như ông đồ già kia, và có lẽ sẽ mãi mãi không còn nếu như không có những Vũ Đình Liên đáng khâm phục4. “Hồn ở đâu bây giờ”5? Câu hỏi ấy là tiếng chuông cảnh tỉnh người đọc ở mọi thế hệ mọi thời đại, thức dậy những gì sâu xa đã bị lãng quên, chon vùi dưới cuộc sống ồn ào náo nhiệt6. Làm sao để tìm lại cái hồn thanh cao cho mỗi con người Việt Nam, để khôi phục lại cái hồn cho cả dân tộc, đó là điều nhà thơ Vũ Đình Liên muốn nhắn gửi chúng ta7. Mô hình đoạn văn Ý tưởng của đoạn văn là giải thích và bình về hai câu thơ. Phần nêu câu hỏi là câu 1, phần trả lời là câu 2,3,4. 7. Đoạn đòn bẩy. Đoạn văn có kết cấu đòn bẩy là đoạn văn mở đầu nêu một nhận định, dẫn một câu chuyện hoặc những đoạn thơ văn có nội dung gần giống hoặc trái với ý tưởng chủ đề của đoạn tạo thành điểm tựa, làm cơ sở để phân tích sâu sắc ý tưởng đề ra. Ví dụ Đoạn văn đòn bẩy, nội dung nói về hai câu thơ tả cảnh xuân trong “ Truyện Kiều” của Nguyễn Du Trong “ Truyện Kiều” có hai câu thơ tả cảnh mùa xuân rất đẹp “ Cỏ non xanh rợn chân trời Cành lên trắng điểm một vài bong hoa”1. Thơ cổ Trung Hoa cũng có hai câu thơ tả cảnh đầy ấn tượng “ Phương thảo liên thiên bích Lê chi sổ điểm hoa2. …Tác giả Trung Quốc chỉ nói “ Lê chi sổ điểm hoa” trên cành lê có mấy bông hoa3. Số hoa lê ít ỏi như bị chìm đi trong sắc cỏ ngút ngàn4. những bông lê yếu ớt bên lề đường như không thể đối chọi với cả một không gian trời đất bao la rộng lớn5. Nhưng những bông hoa trong thơ Nguyễn Du là hoàn toàn khác “ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”6. Nếu như bức tranh xuân ấy lấy phông nền là màu xanh của của cỏ thì những bông hoa lê là một nét chấm phá vô cùng sinh động và tài tình7. Sắc trắng của bông hoa lê – cái sắc trắng chưa từng xuất hiện trong câu thơ cổ Trung Hoa- nổi bật trên nền xanh tạo ra thanh khiết trong sáng vô cùng8. Tuy chỉ là một vài chấm nhỏ trên bức tranh nhưng lại là điểm nhấn toả sáng và nổi bật trên bức tranh toàn cảnh9. Những bông hoa “trắng điểm” thể hiện sự tài tình gợi tả gợi cảm trong lời thơ10. Cành hoa lê như một cô thiếu nữ đang e ấp dịu dàng11. Câu thơ cũng thể hiện bản lĩnh hội hoạ của Nguyễn Du12. Hai sắc màu xanh và trắng hoà quyện với nhau trong bức tranh xuân vừa đẹp vừa dào dạt sức sống đầy xuân sắc, xuân hương và xuân tình13. Mô hình đoạn văn Ý tưởng của đoạn văn là bình giảng câu thơ với hình ảnh thơ đặc sắc. Câu 3,4,5 phân tích câu thơ cổ Trung Quốc làm điểm tựa để năm câu còn lại câu 6,7,8,9,10 làm rõ được chủ đề đoạn. 8. Nêu giả thiết. Đoạn văn nêu giả thiết là đoạn văn có kết cấu mở đoạn nêu giả thiết, để từ đó đề cập tới chủ đề đoạn. Ví dụ Đoạn văn nêu giả thiết, nội dung nói về chi tiết “ cái bóng” trong “ Chuyện người con gái Nam Xương” Giáo sư Phan Trọng Luận không sai khi nói “ Cái bóng đã quyết định số phận con người”, đây phải chăng là nét vô lí, li kì vẫn có trong các truyện cổ tích truyền kì1? Không chỉ dừng lại ở đó, “ cái bóng còn là tượng trưng cho oan trái khổ đau, cho bất hạnh của biết bao người phụ nữ sống dưới xã hội đương thời2. Nỗi oan của họ rồi cũng chỉ là những cái bóng mờ ảo, không bao giờ được sáng tỏ3. Hủ tục phong kiến hay nói đúng hơn là cái xã hội phong kiến đen tối đã vùi dập, phá đi biết bao tâm hồn, bao nhân cách đẹp, đẩy họ đến đường cùng không lối thoát4. Để rồi chính những người phụ nữ ấy trở thành “ cái bóng” của chính mình , của gia đình, của xã hội5. Chi tiết “ cái bóng” được tác giả dùng để phản ánh số phận, cuộc đời người phụ nữ đầy bất công ngang trái nhưng cũng như bao nhà văn khác ông vẫn dành một khoảng trống cho tiếng lòng của chính nhân vật được cất lên, được soi sáng bởi tâm hồn người đọc5. “ Cái bóng” được đề cao như một hình tượng đẹp của văn học, là viên ngọc soi sáng nhân cách con người6. Bạn đọc căm phẫn cái xã hội phong kiến bao nhiêu thì lại càng mở lòng yêu thương đồng cảm với Vũ Nương bấy nhiêu7. “ Cái bóng” là sản phẩm tuyệt vời từ tài năng sáng tạo của Nguyễn Dữ góp phần nâng câu chuyện lên một tầm cao mới chân thực hơn và yêu thương hơn8. Mô hình đoạn văn Đoạn văn có câu thứ nhất nêu giả thiết về chi tiết “cái bóng”. Các câu tiếp theo khẳnh định giá trị của chi tiết đó. 9. Đoạn móc xích. Đoạn văn có mô hình kết câu móc xích là đoạn văn mà ý các câu gối đầu lên nhau, đan xen nhau và được thể hiện cụ thể bằng việc lặp lại một vài từ ngữ ở câu trước trong câu sau. Ví dụ Đoạn văn móc xích, nội dung nói về vấn đề trồng cây xanh để bảo về môi trường sống Muốn làm nhà thì phải có gỗ. Muốn có gỗ thì phải trồng cây gây rừng. Trồng cây gây rừng thì phải coi trọng chăm sóc, bảo vệ để có nhiều cây xanh bóng mát. Nhiều cây xanh bóng mát thì cảnh quan thiên nhiên đẹp, đất nước có hoa thơm trái ngọt bốn mùa, có nhiều lâm thổ sản để xuất khẩu. Nước sẽ mạnh, dân sẽ giàu, môi trường sống được bảo vệ. Mô hình đoạn văn Các ý gối nhau để thể hiện chủ đề về môi trường sống. Các từ ngữ được lặp lại gỗ, trồng cây gây rừng, cây xanh bóng mát. LUYỆN TẬP VIẾT ĐOẠN VĂN Phần I Luyện viết đoạn văn theo nội dung đọc - hiểu văn bản nghệ thuật. Để đọc hiểu một tác phẩm văn học, bạn đọc nói chung và bạn đọc trong nhà trường là học sinh nói riêng thường đọc hiểu theo một quy trình chung - Đọc và tìm hiểu chung về tác phẩm tìm hiểu về tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, tóm tắt tác phẩm nếu là tác phẩm tự sự, tìm hiểu nhan đề tác phẩm…từ đó bước đầu xác định chủ đề của tác phẩm. - Đọc và tìm hiểu chi tiết đọc phân tích từng phần như phân tích đoạn văn, đoạn thơ, phân tích nhân vật, phân tích hình tượng, hình ảnh, chi tiết, hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ,…từ đó đọc ra tư tưởng, thái độ tình cảm của tác giả trước vấn đề xã hội, trước hiện thực cuộc sống được gửi gắm trong tác phẩm. Trên cơ sở kiến thức về đọc hiểu tác phẩm, để kiểm tra, đánh giá và tự kiểm tra, đánh giá kĩ năng nói viết của bạn đọc học sinh về những kiến thức đọc hiểu cụ thể, cần có những bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn. Các loại đoạn văn cần luyện viết theo nội dung đọc - hiểu thường là 1. Đoạn văn giới thiệu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm. 2. Đoạn văn tóm tắt tác phẩm. 3. Đoạn văn giải thích ý nghĩa nhan đề của tác phẩm. [...]...4 Đoạn văn phân tích một chi tiết quan trọng, từ ngữ đặc sắc của tác phẩm 5 Đoạn văn phân tích đặc điểm nhân vật 6 Đoạn văn phân tích hiệu quả nghệ thật của biện pháp tu từ 7 Đoạn văn phân tích, cảm nhận về một đoạn văn, đoạn thơ Những bài tập luyện viết đoạn văn trong nhà trường thường có yêu cầu phối hợp giữa yêu cầu về nội dung, đề tài với yêu cầu về hình thức diễn đạt Ví dụ Viết một đoạn văn. .. kiểu câu Đoạn văn phải được diễn đạt mạch lạc, từ ngữ dùng chính xác, chân thực, có tính hình tượng - Luyện viết đoạn văn theo yêu cầu cụ thể viết đoạn văn có câu ghép và phương tiện liên kết; đoạn văn có câu hỏi tu từ, đoạn văn kết bằng câu cảm thán,… Để viết đoạn văn giới thiệu hoàn cảnh ra đời cầu tác phẩm theo yêu cầu cụ thể như có sử dụng câu ghép, một hoặc hai phương tiện liên kết, người viết trước... vị trí kiểu câu đó trong đoạn văn cần viết; hoặc phép liên kết cần viết trong đoạn văn đó Với bài tập trên, kết thúc đoạn là câu cảm thán câu cuối đoạn nhận xét và thể hiện thái độ tình cảm của người viết theo hướng ngợi ca tinh thần trách nhiệm, nhận thức hoặc suy nghĩ của nhân vật anh thanh niên - Người viết dùng phương tiện ngôn ngữ lời văn của mình để viết đoạn văn Khi viết cần chú ý diễn đạt... Nguyễn Thành Long; yêu cầu về hình thức là viết đoạn văn theo mô hình diễn dịch, kết thúc đoạn là một câu cảm than Người viết lập ý cho đoạn văn và định hình vị trí các câu trong đoạn ,phương tiện liên kết đoạn; đặc biệt là các yêu cầu cụ thể về viết câu câu cảm thán, câu hỏi tu từ, câu ghép,… trong đoạn + Tìm ý cho đoạn văn Với bài tập trên đây là đoạn văn phân tích đặc điểm nhân vật, đặc điểm nổi... dụng ý là như thế đó! Câu kết thúc đoạn văn là câu cảm thán - Ví dụ 2- Bài tập Viết một đoạn văn ngắn giải thích nhan đề của truyện ngắn “ Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long trong đó có sử dụng một câu hỏi tu từ kết thúc đoạn - Đoạn văn minh hoạ “ Chúng ta đều biết nhan đề tác phẩm thường thể hiện đề tài, nội dung hoặc tư tưởng chủ đề của tác phẩm; với nhan đề “ Lặng lẽ Sa Pa”, truyện ngắn... quê” của nhà văn Nguyễn Minh Châu bằng đoạn văn diễn dịch, trong đó có câu hỏi tu từ - Tóm tắt ngắn gọn không quá nửa trang giấy thi tác phẩm “ Những ngôi sao xa xôi” của nhà văn Lê Minh Khuê bằng đoạn văn tổng phân hợp, có sử dụng phép nối 3 Đoạn văn giải thích về ý nghĩa nhan đề tác phẩm Hướng dẫn viết đoạn Nhan đề của tác phẩm thường được tác giả đặt bằng một từ, một cụm từ Nhan đề tác phẩm thường... kết thúc đoạn văn là câu hỏi tu từ Luyện tập - Viết đoạn văn khoảng 5 câu theo cách tổng phân hợp, có sử dụng câu ghép, thể hiện sự cảm nhận của em về ý nghĩa nhan đề tác phẩm “ Đồng chí” của Chính Hữu - Viết đoạn văn khoảng 5 câu theo cách tổng phân hợp, có sử dụng câu mở rộng thành phần, thể hiện sự cảm nhận của em về ý nghĩa nhan đề tác phẩm “ Bếp lửa” của Bằng Việt - Viết đoạn văn khoảng... nghĩa nhan đề tác phẩm “ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của Nguyễn Khoa Điềm - Viết đoạn văn khoảng 5 câu theo cách quy nạp, cs sử dụng câu hỏi tu từ, thể hiện sự cảm nhận của em về ý nghĩa nhan đề tác phẩm “ Ánh trăng” của Nguyễn Duy - Viết đoạn văn khoảng 5 câu theo cách tổng phân hợp thể hiện sự cảm nhận của em về ý nghĩa nhan đề tác phẩm “ Sang thu” của Hữu Thỉnh - Viết đoạn văn ... người vô tình ánh trăng im phăng phắc đủ cho ta giật mình” - Viết một đoạn văn, có sử dụng câu mở rộng phành phần, phân tích hình ảnh đám mây trong hai câu thơ sau “ Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu” “ Sang thu” - Hữu Thỉnh 5 Đoạn văn phân tích đặc điểm nhân vật Hướng dẫn viết đoạn văn Đoạn văn phân tích đặc điểm nhân vật là đoạn văn độc lập Ở đó có thể phân tích một đặc điểm nào đó của nhân... Dữ - Viết một đoạn văn có sử dụng phép nối, phân tích nhân vật ông Hai trong tác phẩm “ Làng” của Kim Lân - Viết một đoạn văn có sử dụng phép thế, phân tích nhân vật anh thanh niên trong tác phẩm “ Lặnh lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long - Viết một đoạn văn quy nạp có sử dụng than từ, phân tích tình yêu ba mãnh liệt của bé Thu trong truyện “ Chiếc lựơc ngà” của Nguyễn Quang Sáng - Viết một đoạn văn theo - Xem thêm -Xem thêm Chuyên đề Rèn kĩ năng viết đoạn văn,

rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận