polyp hành tá tràng
Polyp trực tràng nếu không phát hiện sớm và xử trí kịp thời, đúng cách có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm. Nhận biết sớm các biểu hiện polyp trực tràng giúp chúng ta chủ động trong việc phát hiện, thăm khám và điều trị, tránh những biến chứng xấu c
Polyp hành tá tràng là sự Nội soi dạ dày là phương pháp chẩn đoán chính xác, hiệu quả và tối ưu nhất với các tổn thương ở thực quản, dạ dày và
Trước khi trả lời câu hỏi polyp đại tràng có nguy hiểm không chúng ta cần hiểu rõ polyp đại tràng là gì và có những loại polyp nào. Phòng khám đa Khoa Hoàng Long còn có đội ngũ y bác sĩ là các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực tiêu hóa, có nhiều năm công tác tại các
Ơi Vay Lừa Đảo. Nội dung Text Bài giảng Polyp tá tràng - TS. Phạm Thị Bình POLYP TÁ TRÀNG TS. PHẠM THỊ BÌNH KHOA THĂM DÒ CHỨC NĂNG BỆNH VIỆN BẠCH MAI ĐẠI CƯƠNG Đoạn DII của tá tràng là nơi đường mật –tụy đổ vào ống tiêu hóa. Do đó, hình ảnh nội soi về giải phẩu, tổ chức học và bệnh lý phức tạp. Đoạn trên tá tràng đặc biệt ở DI có tuyến Brunner’s và bệnh lý của nó. Polyp tá tràng có những đặc điểm riêng Polyp ở hành tá tràng có nguồn gốc của dạ dày. Đôi khi, u tuyến trên bệnh nhân polyp gia đình FAP, thường mọc xung quanh vùng papilla. GIẢI PHẨU TỔ CHỨC HỌC Giải phẫu Tá tràng là đoạn đầu của ruột non, dài 20- 25cm, bắt đầu từ lỗ môn vị tới góc hỗng tràng. Phần lớn là cố định, nằm trong phúc mạc và có hình chữ U hoặc C bao bọc chung quanh tụy. Về giải phẫu và hình ảnh nội soi được chia Đoạn I gồm hành tá tràng hoặc mũ. Đoạn II có đường mật và đường tụy đổ vào. Đoạn III phần chạy ngang. Đoạn IV phần đi lên. Cuối đoạn IV có góc Treitz, là nơi tá tràng nối với hỗng tràng. Tổ chức học Niêm mạc tá tràng có nhiều nhung mao. Chỗ nối giữa dạ dày và tá tràng dễ nhận thấy qua nội soi nhưng khó phân biệt về tổ chức học. Ranh giới để phân biệt giữa dạ dày và tá tràng là lớp cơ môn vị. Đoạn đầu của tá tràng có 3 lớp biểu mô Biểu mô dạ dày Biểu mô ruột non Biểu mô chuyển đổi Ơû đoạn tá tràng biểu mô có hình lá ngắn hơn và to hơn và đặc biệt tuyến Bruner’s hoặc mảng lympho, có nhiều tế bào đơn nhân ở lớp đệm. Tuyến Bruner’s hầu hết đều ở dưới lớp niêm mạc và tập trung nhiều nhất ở DI, thưa dần ở DIII và DIV. Tuyến Bruner’s là hàng rào tế bào hình khối trụ bao quanh tế bào chất đồng nhất. Hình ảnh mô học của tá tràng NIÊM MẠC DẠ DÀY LẠC CHỖ heterotopic gastric mucosa Tên gọi Dị sản dạ dày –tá tràng duodenal gastric heterotopia. Sự thường gặp Gặp 2% khi soi đường tiêu hoá trên. Hình ảnhnội soi Thường thấy ở DI. Có 01 hoặc nhiều polyp màu hồng nhỏ < 1cm. Thường ở mặt trước tá tràng. Hình ảnh dị sản dạ dày-tá tràng Mô bệnh học Có tuyến dạ dày và mô đệm có tế bào chính và tế bào thành. Biểu mô phủ có thể là biểu mô dạ dày hoặc tá tràng. Cần phân biệt với loạn sản dạ dày. Niêm mạc dạ dày lạc chỗ có tế bào tiết nhầy trên nhung mao của DI Loạn sản dạ dày thường là do phản ứng với acid, đặc biệt liên quan đến viêm dạ dày do Hecoli Pylori. Đặc điểm sinh học và yếu tố liên quan Tổn thương lành tính không có biểu hiện lâm sàng. Điều trị Không cần theo dõi và điều trị. TỔ CHỨC TỤY LẠC CHỖ heterotopic pancrease tissue Tên gọi Lạc chỗ tụy - tá tràng pancreatic duodenal heteropia. U mô thừa cơ tuyến myoglandular hamartoma. U cơ tuyến tụypancreatic adenomyoma. Sự thường gặp Là bệnh lý bẩm sinh. Chiếm 13,7% các trường hợp hẹp tá hỗng tràng- túi thừa Meckel. Liên quan đến nhiễm sắc thể XIII-XVIII.
Hành tá tràng là một phần của tá tràng, là nơi đổ dịch mật và dịch tụy cho quá trình tiêu hóa thức ăn. Vậy hành tá tràng nằm ở đâu, có cấu tạo và chức năng gì, những bệnh lý liên quan ra sao, hãy cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây. 1. Hành tá tràng là gì? Hành tá tràng nằm ở đâu?2. Cấu tạo của hành tá tràng3. Chức năng của hành tá tràng4. Các bệnh lý liên quan đến hành tá Viêm loét hành tá Polyp tá Thủng hành tá tràng dạ U tá Tắc hẹp hành tá tràng bẩm Ung thư hành tá tràng5. Hành tá tràng có chữa khỏi được không?6. Cách điều trị bệnh hành tá tràng7. Lời khuyên từ chuyên gia 5/5 – 3 bầu chọn Tá tràng là một đoạn đầu nối có hình chữ C, là phần tiên phong của ruột non, nơi nhận thức ăn đã tiêu hóa một phần tự dạ dày và khởi đầu quy trình hấp thụ chất dinh dưỡng. Tá tràng là đoạn ngắn nhất của ruột, dài từ 23-28 cm. Theo giải phẫu và công dụng, tá tràng được chia thành bốn đoạn tá tràng trên hành tá tràng , tá tràng xuống, tá tràng ngang và tá tràng lên . Hành tá tràng hay còn gọi là tá tràng trên, chiếm khoảng chừng 2/3 tá tràng và nằm ngay sau môn vị dạ dày. Do có hình dạng phình to như củ hành tây nên được gọi là hành tá tràng. Đây là vị trí gần nhất với dạ dày. Hành tá tràng nằm sau gan, túi mật và cao hơn đầu tụy. Vị trí này rất dễ gặp cả tổn thương viêm loét . 2. Cấu tạo của hành tá tràng Tá tràng được chia thành bốn phần gồm có Tá tràng trên hành tá tràng điểm tiếp nối với môn vị dạ dày Tá tràng xuống gắn với tụy, có nhú tá lớn và nhú tá bé và là nơi dịch tụy và dịch mật đổ về Tá tràng ngang chạy từ trái sang phải, được tính từ động mạch chủ bụng đến tĩnh mạch chủ dưới Tá tràng lên phần chạy dọc bên trái cột sống dính với mặt sau của thành bụng trải qua dây chằng Treitz – được coi như ranh giới phân biệt đường tiêu hóa trên và tiêu hóa dưới . Hành tá tràng cũng là một phần của tá tràng nên có cấu trúc tương tự như với tá tràng, gồm có 5 lớp Lớp thanh mạc Lớp dưới thanh mạc Lớp cơ Lớp dưới niêm mạc Lớp niêm mạc Lớp niêm mạc này sẽ tiết ra nhiều men để tiêu hóa thức ăn, đặc biệt quan trọng ở thành niêm mạc tá tràng xuống gắn với tụy . 3. Chức năng của hành tá tràng Thức ăn sau khi đưa vào khung hình qua khoang miệng, sau quy trình nhai, trộn cùng tuyến nước bọt sau đó sẽ đi qua thực quản xuống đến dạ dày. Tại đây, thức ăn được trộn cùng với những enzyme và axit trong dạ dày, trộn và nghiền nhỏ thức ăn . Lượng thức ăn này sau khi đã được nghiền nhỏ sẽ được chuyển xuống môn vị, xuống đến tá tràng là phần đầu ruột non. Hành tá tràng là điểm đảm nhiệm tiên phong khi thức ăn chuyển từ dạ dày xuống ruột non để tiêu hóa . Tại đây, hành tá tràng và tá tràng là nơi dịch mật và dịch tụy đổ vào ruột non, có trách nhiệm đưa thức ăn chuyển xuống ruột non, đồng thời hấp thụ nước và chất dinh dưỡng trước khi chúng liên tục chuyển dời đi. Thức ăn sau khi được phân giải và được niêm mạc ruột non hấp thu sau đó luân chuyển đến đại tràng ruột già để kết thúc quy trình tiêu hóa . Như vậy, hoàn toàn có thể coi hành tá tràng cũng như tá tràng là điểm quan trọng trung chuyển thức ăn từ dạ dày xuống đến ruột non và là nơi “ tập trung ” của hai ống tiết của hai ống tiêu hóa lớn và gan và tụy. Nếu vị trí này bị tổn thương sẽ ảnh hưởng tác động đến cả dạ dày và ruột non . 4. Các bệnh lý liên quan đến hành tá tràng Viêm loét hành tá tràng Viêm loét hành tá tràng-dạ dày là thực trạng tiếp tục xảy ra do vết viêm, loét tăng trưởng ở trong lớp lót dạ dày và phần trên của ruột non. Nguyên nhân bị viêm loét hành tá tràng là do vi trùng Helicobacter pylori xâm nhập vào lớp niêm mạc gây ra thực trạng viêm loét . Người bệnh bị viêm loét hành tá tràng thường cảm nhận được những triệu chứng như Cơn đau dạ dày hoặc bụng, chủ yếu đau tập trung chuyên sâu vùng thượng vị đau trên rốn Khótiêu, cảm thấy no và đầy hơi sau khi ăn Thể trạng căng thẳng mệt mỏi Người sút cân bất ngờ đột ngột Nếu không biết cách điều trị viêm loét hành tá tràng sẽ dẫn đến xuất huyết tá tràng, nhiễm trùng và tác động ảnh hưởng đến sự luân chuyển thức ăn trong dạ dày và ruột . Polyp tá tràng Polyp tá tràng hầu hết không gây ra triệu chứng nguy khốn. Mặc dù tương đối lành tính nhưng nếu không kiểm tra phát hiện kịp thời so với những hội chứng đa polyp gây ra polyp tá tràng, có năng lực chuyển thành ung thư cao hơn . Polyp hoàn toàn có thể Open ở bất kể vị trí nào trong tá tràng như hành tá tràng, tá tràng xuống, tá tràng ngang hay tá tràng lên . Hầu hết những polyp đều được điều trị khởi đầu bằng nội soi và đốt bỏ. Nếu polyp to hoàn toàn có thể cần phẫu thuật . >>> Tìm hiểu thêm Polyp đại tràng có nguy hiểm không? Thủng hành tá tràng dạ dày Khi thực trạng viêm loét dạ dày hành tá tràng quá nặng mà không được điều trị kịp thời hoàn toàn có thể dẫn đến biến chứng thủng dạ dày, tá tràng. Người bệnh phải đương đầu với những cơn đau bụng kinh hoàng, bụng cứng kèm theo nôn, vã mồ hôi, tay chân lạnh . Đối với những lỗ thùng lành tính, bờ mềm mai, không gây hẹp tá tràng hoặc do tác động từ vật sắc nhọn gây thủng dạ dày hành tá tràng các bác sĩ có thể tiến hành khâu lỗ thủng hành tá tràng. Còn những trường hợp thủng gây hoại tử, có ổ loét làm hẹp đường xuống tá tràng sẽ không được chỉ định khâu. U tá tràng U tá tràng hoàn toàn có thể Open ở dưới niêm mạc tá tràng. Đa số những u này đều lành tính. Tuy nhiên khi u tăng trưởng sẽ gây ra những cơn đau bụng âm ỉ, không dễ chịu, phân lẫn máu, buồn nôn, khung hình stress . Tắc hẹp hành tá tràng bẩm sinh Tắc hẹp tá tràng hay teo tá tràng khá phổ cập, đứng thứ 3 trong những chứng không bình thường ở đường tiêu hóa. Theo ước tính cứ 5000 – trường hợp thì có 1 người bị teo tá tràng. Đây là không bình thường tương quan đến Hội chứng Down chiếm 25-40 % , di thường não, teo hậu môn, dị tật tim mạch … Ung thư hành tá tràng Ung thư tá tràng hay ung thư hành tá tràng là bệnh lý hiếm gặp trong những bệnh lý ung thư đường tiêu hóa. Theo thống kê của Kleinerman J. và Cs chỉ tìm thấy 0,03 % người gặp phải ung thư tá tràng trong tổng số lần mổ tử thi. Việc xác lập ung thư tá tràng tương đối khó khăn vất vả. Một số triệu chứng thường thấy ở người bị ung thư tá tràng và ung thư hành tá tràng Trào ngược axit Phân lẫn máu, táo bón Ói mửa Đau bụng, buồn nôn Sút cân Có cảm nhận về khối u ở bệnh 5. Hành tá tràng có chữa khỏi được không? Việc chữa trị những bệnh lý về hành tá tràng khi ở mức độ nhẹ trọn vẹn hoàn toàn có thể chữa khỏi được. Tuy nhiên khi để bệnh tình diễn biến nặng như ung thư, khối u quy trình điều trị phức tạp hơn, thời hạn điều trị lâu hơn. Kiên trì điều trị vẫn hoàn toàn có thể cải tổ . Do vậy người bệnh nên dữ thế chủ động điều trị khi hành tá tràng Open thực trạng viêm, loét. Tránh trường hợp trở nặng diễn biến phức tạp hơn . 6. Cách điều trị bệnh hành tá tràng – Trong trường hợp tá tràng, hành tá tràng bị viêm, loét, người bệnh được chỉ định điều trị bằng những loại thuốc kháng sinh . Thông thường, những bác sĩ sẽ kê thuốc kháng sinh sử dụng trong 14 ngày như Amoxicillin Clarithromycin Metronidazole Tetracycline – Trường hợp điều trị bằng thuốc khác như làm giảm axit trong dạ dày Thuốc ức chế bơm proton và histamin đối kháng H2 – Điều trị bằng chính sách siêu thị nhà hàng Dung nạp những loại thực phẩm tốt cho tá tràng như Các thực phẩm dễ tiêu hóa như thịt lợn nạc, ức gà, cá chế biến theo kiểu hấp, luộc Rau củ quả tươi giàu vitamin Các loại thức ăn chứa tinh bột ít mùi như cơm, bánh mì, cháo … Dầu thực vật như dầu hướng dương, dầu hạt cải, dầu đậu nành Hạn chế thực phẩm chế biến sẵn như xúc xích, lạp xưởng Hạn chế đồ ăn cứng, rắn như kẹo, thịt nhiều gân, sụn, rau nhiều xơ Hạn chế đồ chua như giấm, chanh, xoài chua dễ lên men trong dạ dày Tránh nước có ga, cafe, chè đặc, rượu bia, thuốc lá – Điều trị bằng những bài thuốc dân gian Tinh nghệ pha nước ấm uống Quả sung phơi khô hãm nước Lá mơ giã lấy nước uống … – Điều trị bằng phẫu thuật trong trường hợp gặp phải ung thư, u hoặc tắc hẹp, teo tá tràng, hành tá tràng . >>> Tham khảo Viêm đại tràng nên ăn gì kiêng gì từ chuyên gia 7. Lời khuyên từ chuyên gia Theo Ths. Bs Nguyễn Thị Hằng, có nhiều bệnh lý tương quan đến hành tá tràng, nếu phát hiện và điều trị sớm hoàn toàn có thể chữa khỏi. Do vậy, để phòng tránh, cần quan tâm đến lối sống, chính sách nhà hàng siêu thị và hoạt động và sinh hoạt lành mạnh như Chủ động thăm khám khi có những không bình thường như đau vùng thượng vị, ợ chua, trào ngược dạ dày để sớm tìm ra được nguyên do gây bệnh Duy trì lối sống lành mạnh, hạn chế những loại thực phẩm cay nóng, chua ảnh hưởng tác động đến tá tràng, hành tá tràng Không nên để bụng quá đói hoặc ăn quá no Không nên ăn tối quá khuya Uống đủ nước mỗi ngày Ăn uống khoa học, ăn chậm nhai kỹ Nên lựa chọn thực phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Tránh sử dụng quá liều thuốc kháng viêm và giảm đau tiếp tục Trên đây là một số thông tin về hành tá tràng nằm ở đâu, các bệnh lý liên quan đến hành tá tràng. Nếu có thắc mắc nào vui lòng liên hệ qua hotline 0865 344 349 để được tư vấn giải đáp. XEM THÊM
1. Bệnh polyp đại trực tràng là gì? Một số loại polyp tuyến được gọi là adenomas có khả năng trở thành ung thư, trong khi những loại khác polyp tăng sản hoặc viêm hầu như không có khả năng trở thành ung thư. Tuy nhiên cần lưu ý những điều sau ● Polyp là phổ biến gặp ở 30-50% người lớn ● Không phải tất cả các polyp sẽ trở thành ung thư ● Phải mất nhiều năm để polyp trở thành ung thư ● Polyp có thể được loại bỏ hoàn toàn và an toàn Ngoài ra cần biết số lượng, loại, kích thước và vị trí của polyp. Những người đã được cắt bỏ polyp tuyến sẽ được yêu cầu kiểm tra theo dõi vì polyp mới có thể phát triển theo thời gian cũng cần phải được loại bỏ. 2. Nguyên nhân polyp đại trực tràng Polyp rất phổ biến ở nam và nữ thuộc mọi chủng tộc, các yếu tố như chế độ ăn uống và môi trường đóng vai trò nhất định trong việc hình thành polyp như Chế độ ăn nhiều chất béo Chế độ ăn nhiều thịt đỏ Chế độ ăn ít chất xơ Hút thuốc lá Béo phì Tuổi – Ung thư đại trực tràng và polyp không phổ biến trước tuổi 40. 90% các trường hợp xảy ra sau 50 tuổi, với nam giới hay gặp hơn phụ nữ, do đó, sàng lọc ung thư đại trực tràng thường được khuyến nghị bắt đầu ở tuổi 50 cho cả hai giới. Phải mất khoảng 10 năm để một polyp nhỏ phát triển thành ung thư. Tiền sử gia đình và di truyền học – Polyp và ung thư đại trực tràng có xu hướng gặp nhiều người trong gia đình, cho thấy các yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển polyp. Nguyên tắc chung để sàng lọc ung thư đại trực tràng nên bắt đầu ở độ tuổi sớm hơn ở những người có tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư hoặc polyp. Ngoài ra một số bệnh di truyền hiếm gặp có thể gây ra tỷ lệ cao bị ung thư đại trực tràng ở lứa tuổi sớm hơn. Các xét nghiệm về gen có thể được khuyến nghị cho các gia đình có tỷ lệ ung thư cao 3. Các loại polyp đại trực tràng Các loại polyp phổ biến nhất là polyp tăng sản và polyp tuyến. Các loại polyp khác cũng có thể được tìm thấy trong đại tràng, ít gặp hơn Polyp tăng sản – Polyp tăng sản thường nhỏ, nằm ở phần cuối của đại tràng trực tràng và đại tràng sigma, không có khả năng trở thành ác tính và không đáng lo ngại. Không phải lúc nào cũng có thể phân biệt polyp tăng sản với polyp tuyến qua nội soi, thường phải dựa vào kết quả mô bệnh học sau khi cắt bỏ polyp Polyp tuyến – Hai phần ba polyp đại tràng là polyp tuyến. Hầu hết các polyp này không phát triển thành ung thư, mặc dù chúng có khả năng trở thành ung thư. Adenomas được phân loại theo kích thước, hình dạng chung và các đặc điểm cụ thể của chúng khi nhìn dưới kính hiển vi. Nhìn chung kích thước của polyp tuyến càng lớn thì khả năng trở thành ung thư càng cao. Do đó, các polyp lớn lớn hơn 5 mm nên được loại bỏ hoàn toàn để ngăn ngừa phát triển thành ung thư và nên được kiểm tra dưới kính hiển vi xác định chắc chắn Polyp ác tính – Polyp chứa tế bào ung thư được gọi là polyp ác tính. Việc điều trị tối ưu cho polyp ác tính phụ thuộc vào mức độ ung thư khi được kiểm tra bằng kính hiển vi và các yếu tố cá nhân khác. 4. Chẩn đoán Polyp đại trực tràng Polyp thường không gây ra triệu chứng nhưng có thể được phát hiện khi kiểm tra sàng lọc ung thư chẳng hạn như nội soi đại trực tràng, hoặc sau khi xét nghiệm sàng lọc tìm máu trong phân Nội soi đại tràng là cách tốt nhất để đánh giá đại tràng vì nó cho phép bác sĩ nhìn thấy toàn bộ niêm mạc đại tràng và loại bỏ hầu hết các polyp được tìm thấy. Mặt trong của đại tràng là cấu trúc giống như ống, bề mặt phẳng với các nếp gấp cong. Một polyp xuất hiện dưới dạng một khối nhô vào bên trong lòng đại tràng Các mô bao phủ một polyp có thể trông giống như mô đại tràng bình thường, hoặc, có thể có những thay đổi mô về màu sắc hay loét và chảy máu. Một số polyp phẳng và một số khác có cuống. Nội soi đại tràng ống mềm là xét nghiệm tốt nhất để kiểm tra polyp. 5. Cắt bỏ polyp Ung thư đại trực tràng có thể phòng ngừa được nếu polyp tiền ung thư tức là u tuyến được phát hiện và loại bỏ trước khi chúng trở thành ác tính ung thư. Theo thời gian, các polyp nhỏ có thể thay đổi cấu trúc của chúng và trở thành ung thư. Polyp thường được loại bỏ khi chúng được tìm thấy trên nội soi, giúp loại bỏ cơ hội cho polyp đó trở thành ung thư. Cắt bỏ polyp không gây đau đớn vì niêm mạc đại tràng không có khả năng cảm thấy đau. Biến chứng cắt polyp là an toàn mặc dù nó có một vài rủi ro và biến chứng tiềm ẩn. Các biến chứng phổ biến nhất là chảy máu và thủng tạo ra một lỗ trên đại tràng. May mắn thay, điều này ít xảy ra 1/1000 bệnh nhân được nội soi. Chảy máu có thể được kiểm soát nếu xảy ra trong khi nội soi bằng cách áp nhiệt đốt điện vào vị trí chảy máu; phẫu thuật đôi khi được chỉ định nếu bị thủng ruột. 6. Phòng ngừa ung thư đại trực tràng Nội soi theo dõi những người có polyp tuyến có nguy cơ phát triển thành ung thư. Khoảng 25 – 30% các trường hợp sẽ lại xuất hiện trên nội soi đại tràng ba năm sau khi phẫu thuật cắt polyp ban đầu. Một số polyp này có thể đã có mặt trong lần kiểm tra ban đầu, nhưng quá nhỏ để phát hiện. Các polyp mới khác cũng có thể đã phát triển. Sau khi polyp được loại bỏ, nội soi đại tràng lặp lại được khuyến nghị, thường là một đến năm năm sau khi nội soi ban đầu. Tuy nhiên, khoảng thời gian này phụ thuộc vào một số yếu tố Đặc điểm vi mô của polyp. Số lượng và kích thước của polyp. Khả năng nhìn thấy trong khi nội soi đại tràng. Khâu chuẩn bị trước khi nội soi thụt tháo tốt để loại bỏ tất cả dấu vết của phân là rất cần thiết. Nếu việc chuẩn bị không tốt, phân có thể vẫn còn trong đại tràng, khiến cho việc nhìn thấy các polyp kích thước nhỏ đến trung bình sẽ khó khăn hơn. Trong tình huống này, nội soi theo dõi có thể được đề nghị sớm hơn một đến năm năm sau đó. Có thể kiểm tra toàn bộ đại tràng hay không? Những người trải qua sàng lọc thường xuyên ung thư đại trực tràng ít có khả năng tử vong vì loại ung thư này. Vì vậy, làm theo hướng dẫn sàng lọc là rất quan trọng trong việc ngăn ngừa ung thư ruột. Các biện pháp về lối sống cũng rất quan trọng như Ăn chế độ ăn ít chất béo và nhiều trái cây, rau và chất xơ Duy trì trọng lượng cơ thể bình thường Tránh hút thuốc và sử dụng rượu quá mức 7. Đối với các thành viên khác trong gia đình Người thân cấp độ một cha mẹ, anh, chị, em ruột của người được chẩn đoán mắc bệnh polyp tuyến hoặc ung thư đại trực tràng trước 60 tuổi có nguy cơ phát triển polyp tuyến và ung thư đại trực tràng cao hơn so với dân số chung. Vì vậy, gia đình người bệnh cũng nên được biết thông tin Mặc dù sàng lọc polyp và ung thư được khuyến nghị cho mọi người thường bắt đầu ở tuổi 50, những người có nguy cơ cao nên bắt đầu sàng lọc sớm hơn. Những người có một người thân cấp độ một cha mẹ ruột, anh trai, em gái hoặc con ruột bị ung thư đại trực tràng hoặc một polyp tuyến ở tuổi trẻ trước 60 tuổi hoặc hai người thân cấp độ một được chẩn đoán ở mọi lứa tuổi, nên bắt đầu sàng lọc ung thư đại tràng sớm hơn, điển hình là ở tuổi 40 hoặc trẻ hơn 10 tuổi so với tuổi chẩn đoán sớm nhất trong gia đình họ. Sàng lọc tốt nhất bằng nội soi ống mềm, cần được lặp lại 5 năm/ lần Những người có người thân cấp độ hai ông bà, dì hoặc chú hoặc người thân cấp độ ba ông bà hoặc anh em họ bị ung thư đại trực tràng nên được sàng lọc ung thư đại tràng tương tự như người có nguy cơ trung bình. Điều trị cắt polyp đại tràng qua nội soi ống mềm tại Bệnh viện Đa khoa Trung Tâm An Giang được thực hiện theo đúng quy trình kỹ thuật chuẩn của kỹ thuật cắt polyp qua nội soi ống mềm của Nhật bản và Thế giới, đảm bảo hiệu quả điều trị tốt và đạt mức độ an toàn rất cao cho người bệnh. Đặc biệt Bệnh viện đã thực hiện nội soi tiêu hóa KHÔNG ĐAU theo đúng qui trình của Bộ Y Tế, đảm bảo an toàn, hiệu quả rất cao, mang đến sự hài lòng cho người bệnh. Người bệnh được nội soi thực quản dạ dày tá tràng, nội soi đại trực tràng KHÔNG ĐAU, và Bác sĩ có thể chẩn đoán chính xác bệnh hơn, thực hiện nội soi điều trị hiệu quả hơn. Các bạn muốn được tư vấn rõ hơn về bệnh lí tiêu hóa, về vấn đề nội soi tiêu hóa; hãy liên hệ Phòng Nội soi tiêu hóa, Khoa Nội Tiêu hóa – Huyết học, Bệnh viện đa khoa trung tâm An Giang. BS Hồ Hiền Sang, Khoa Nội Tiêu hóa – Huyết Học
polyp hành tá tràng